Quy định sử dụng áo blouse trong bệnh viện thường được xây dựng để bảo đảm nhận diện nhân sự, kiểm soát nhiễm khuẩn và duy trì tác phong chuyên nghiệp. Nội dung trước hết xác định những đối tượng phải mặc, gồm bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, dược sĩ, nhân viên xét nghiệm, sinh viên thực tập và khách chuyên môn khi tham gia hoạt động lâm sàng. Từng nhóm có thể sử dụng màu sắc, chiều dài áo, bảng tên hoặc ký hiệu chức danh khác nhau để tránh nhầm lẫn về vai trò và thẩm quyền.

Quy định cũng nêu rõ thời điểm, khu vực sử dụng và cách phối áo với scrubs hoặc đồng phục bên trong. Blouse thường bắt buộc tại khu khám bệnh, buồng bệnh, khi đi buồng, hội chẩn và tiếp xúc người bệnh. Riêng phòng mổ, ICU, khu cách ly hoặc phòng xét nghiệm nguy cơ cao có thể yêu cầu thay bằng scrubs, áo choàng chống thấm hay PPE chuyên dụng.
Bên cạnh kiểu dáng kín đáo, vừa vặn và không cản trở thao tác, áo phải sạch, khô, phẳng, có logo và bảng tên rõ ràng. Áo dính máu, dịch tiết, hóa chất hoặc bị ướt phải được thay ngay, thu gom và giặt theo đúng quy trình. Trang sức, móng tay dài, giày hở mũi và phụ kiện vướng víu thường bị hạn chế. Quan trọng nhất, blouse chỉ là đồng phục bảo vệ cơ bản, không được dùng thay thế phương tiện phòng hộ cá nhân trong tình huống nguy cơ cao.
Đối tượng bắt buộc mặc áo blouse trong bệnh viện
Trong bệnh viện, áo blouse là một phần quan trọng của hệ thống đồng phục y tế và phương tiện phòng hộ cơ bản, được áp dụng cho nhiều nhóm nhân sự khác nhau. Nhóm bắt buộc mặc gồm bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên y học khi tham gia hoạt động chuyên môn, tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với người bệnh, mẫu bệnh phẩm, dịch tiết. Bên cạnh đó, dược sĩ, nhân viên xét nghiệm và một số nhân viên hành chính y tế cũng phải mặc blouse tùy mức độ tiếp xúc và quy định từng bệnh viện. Sinh viên, học viên sau đại học, người quan sát lâm sàng, nhân viên hợp đồng, cộng tác viên và khách chuyên môn được yêu cầu mặc áo blouse có nhận diện rõ ràng, tuân thủ chặt chẽ quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn và quản lý đồng phục tập trung.

Bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên mặc blouse theo vị trí công tác
Trong hầu hết các bệnh viện, nhóm bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên y học là đối tượng bắt buộc phải mặc áo blouse khi tham gia hoạt động chuyên môn. Quy định này dựa trên các nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện (HAI control), nhận diện chức danh, phân tầng trách nhiệm chuyên môn và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong môi trường khám chữa bệnh có nguy cơ sinh học cao. Áo blouse được xem là một phần của hệ thống phương tiện phòng hộ cá nhân cơ bản (basic PPE) và là đồng phục y tế chuẩn, giúp phân biệt nhân viên y tế với người bệnh, người nhà, khách tham quan, đồng thời tạo dựng niềm tin, cảm giác an toàn cho người bệnh khi tiếp xúc.

Đối với bác sĩ, áo blouse thường là loại dài qua gối hoặc ngang đùi, tay dài hoặc tay lửng tùy theo quy định từng bệnh viện và yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn của từng khu vực (khoa khám bệnh, khoa lâm sàng, phòng thủ thuật, ICU…). Bác sĩ lâm sàng, bác sĩ nội trú, bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ sau đại học đều phải mặc blouse khi:
- Khám bệnh ngoại trú, khám cấp cứu, khám tại phòng khám chuyên khoa.
- Đi buồng, thăm khám người bệnh nội trú, đánh giá tình trạng hàng ngày.
- Tham gia hội chẩn, giao ban, bàn giao ca trực có mặt người bệnh.
- Thực hiện thủ thuật, can thiệp xâm lấn, làm các kỹ thuật chẩn đoán – điều trị tại giường.
- Tham gia các hoạt động chuyên môn có tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với người bệnh, mẫu bệnh phẩm, dịch tiết.
Bác sĩ làm việc chủ yếu tại khu hành chính, phòng chỉ đạo tuyến, phòng kế hoạch tổng hợp, phòng quản lý chất lượng có thể được phép mặc blouse hoặc trang phục công sở kèm bảng tên, tùy theo quy định nội bộ. Một số bệnh viện phân định rõ: bác sĩ chỉ mặc blouse khi di chuyển vào khu vực lâm sàng, còn khi ở khu hành chính phải thay sang trang phục công sở để hạn chế mang mầm bệnh ra khỏi khu điều trị.
Điều dưỡng và hộ sinh thường mặc đồng phục riêng (scrubs hoặc bộ đồng phục điều dưỡng) nhưng vẫn có thể phải mặc thêm áo blouse bên ngoài trong một số khoa, đặc biệt là:
- Khoa khám bệnh, khoa ngoại trú, khu tiếp đón – sàng lọc người bệnh.
- Khu vực tư vấn, giáo dục sức khỏe, phòng tiêm chủng, phòng thủ thuật ngoại trú.
- Các buổi hội chẩn, giao ban liên khoa có sự tham gia của người bệnh hoặc thân nhân.
Ở nhiều bệnh viện, điều dưỡng và hộ sinh được quy định sử dụng áo blouse ngắn hoặc áo khoác điều dưỡng có màu sắc riêng (trắng, xanh nhạt, hồng nhạt…) để phân biệt với bác sĩ, nhưng vẫn phải đáp ứng tiêu chuẩn: sạch, kín đáo, tay áo gọn, chất liệu dễ giặt, chịu được quy trình giặt hấp khử khuẩn trung tâm CSSD. Một số quy định chuyên môn còn yêu cầu điều dưỡng, hộ sinh phải thay áo blouse ngay khi dính máu, dịch tiết, hoặc khi di chuyển giữa các khu vực nguy cơ khác nhau (ví dụ: từ khu cách ly sang khu thường).
Kỹ thuật viên y học (kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh, kỹ thuật viên phục hồi chức năng, kỹ thuật viên gây mê, kỹ thuật viên xét nghiệm tại điểm chăm sóc – POCT, kỹ thuật viên thăm dò chức năng, kỹ thuật viên tim mạch – hô hấp…) cũng thuộc nhóm bắt buộc mặc áo blouse khi làm việc tại khu vực có người bệnh hoặc khi thực hiện kỹ thuật trên người bệnh. Tùy đặc thù chuyên môn, họ có thể:
- Mặc scrubs hoặc đồng phục chuyên biệt trong phòng chụp CT, MRI, X-quang, phòng nội soi, phòng phục hồi chức năng.
- Mặc thêm áo blouse hoặc áo khoác chuyên môn khi di chuyển giữa các khoa, khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, thân nhân, hoặc khi tham gia hội chẩn liên chuyên khoa.
- Tuân thủ quy định không mang áo blouse đã sử dụng trong phòng thủ thuật, phòng can thiệp ra khu vực công cộng, hành lang chung, khu ăn uống.
Trong các khu vực có nguy cơ phơi nhiễm cao (phòng can thiệp tim mạch, phòng mổ, ICU, khu cách ly), áo blouse của kỹ thuật viên thường chỉ là lớp ngoài cùng bên ngoài scrubs và có thể được thay thế bằng áo choàng vô khuẩn hoặc áo choàng chống thấm theo quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn.
Dược sĩ, nhân viên xét nghiệm và nhân viên hành chính y tế có cần mặc blouse không?
Dược sĩ làm việc tại khoa Dược, nhà thuốc bệnh viện, kho thuốc, khu pha chế – bào chế, khu chuẩn bị thuốc hóa trị, pha chế dung dịch dinh dưỡng tĩnh mạch thường được yêu cầu mặc áo blouse trắng hoặc áo blouse màu theo quy định nhận diện của bệnh viện. Áo blouse trong khoa Dược có các chức năng:
- Nhận diện chuyên môn, phân biệt dược sĩ với nhân viên hành chính, nhân viên giao nhận, người bệnh.
- Bảo vệ trang phục cá nhân khỏi bụi thuốc, bột thuốc, dung môi, hóa chất, đặc biệt trong khu pha chế thuốc độc tế bào, thuốc gây độc gan – thận.
- Hỗ trợ duy trì môi trường sạch trong khu vực bảo quản, cấp phát thuốc, giảm nguy cơ nhiễm chéo giữa thuốc và môi trường.

Dược sĩ lâm sàng khi đi buồng, tham gia hội chẩn đa chuyên khoa, tư vấn sử dụng thuốc cho người bệnh tại khoa lâm sàng cũng phải mặc blouse, kèm bảng tên, thẻ chức danh rõ ràng, có thể kèm thêm thẻ “Dược sĩ lâm sàng” để người bệnh và nhân viên y tế dễ nhận diện vai trò.
Nhân viên xét nghiệm tại khoa Xét nghiệm, Huyết học, Vi sinh, Sinh hóa, Giải phẫu bệnh, Sinh học phân tử thường mặc scrubs hoặc áo blouse ngắn, kết hợp với áo choàng bảo hộ, găng tay, khẩu trang, kính bảo hộ, tấm che mặt tùy mức độ nguy cơ sinh học (BSL-2, BSL-3). Trong phòng xét nghiệm, áo blouse có thể được thay thế bằng áo choàng phòng thí nghiệm chuyên dụng, nhưng vẫn phải đáp ứng các tiêu chuẩn:
- Tay dài, cổ kín, hạn chế tối đa vùng da hở.
- Chất liệu dày vừa phải, ít thấm, chịu được hóa chất, dễ giặt khử khuẩn.
- Thiết kế không có chi tiết rườm rà (nơ, ren, tay áo rộng) để tránh vướng vào thiết bị, mẫu bệnh phẩm.
Khi nhân viên xét nghiệm ra khỏi khu xét nghiệm để đến khoa lâm sàng lấy mẫu, tư vấn hoặc hỗ trợ kỹ thuật, họ phải mặc áo blouse sạch, không mang theo áo đã nhiễm bẩn ra ngoài khu xét nghiệm. Nhiều bệnh viện quy định rõ luồng di chuyển và khu vực thay áo, nhằm tránh mang mầm bệnh từ phòng xét nghiệm ra môi trường chung.
Nhân viên hành chính y tế như nhân viên tiếp đón, nhân viên hồ sơ bệnh án, nhân viên bảo hiểm y tế, nhân viên chăm sóc khách hàng, thư ký y khoa… có thể được yêu cầu mặc áo blouse hoặc đồng phục công sở tùy theo chính sách từng bệnh viện và mức độ tiếp xúc với người bệnh. Một số bệnh viện quy định:
- Nhân viên hành chính làm việc tại khu khám bệnh, khu tiếp đón, khu cấp cứu phải mặc áo blouse để tạo hình ảnh thống nhất, dễ nhận diện, hỗ trợ điều phối người bệnh.
- Nhân viên hành chính làm việc tại khu văn phòng, khu hành chính trung tâm chỉ cần mặc đồng phục công sở kèm bảng tên, không bắt buộc áo blouse để tránh nhầm lẫn với nhân viên trực tiếp khám chữa bệnh.
Ở các bệnh viện áp dụng mô hình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, áo blouse của nhân viên hành chính có thể có màu sắc khác (xanh nhạt, xám nhạt) và được in rõ chức danh như “Hỗ trợ khách hàng”, “Hướng dẫn – Tiếp đón” nhằm giảm nhầm lẫn với bác sĩ, điều dưỡng.
Sinh viên thực tập, học viên và người quan sát lâm sàng mặc blouse trong trường hợp nào?
Sinh viên y khoa, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y học, dược khi thực tập tại bệnh viện thường được yêu cầu mặc áo blouse theo quy định của trường và bệnh viện. Áo blouse của sinh viên thường có chiều dài và kiểu dáng tương tự bác sĩ hoặc điều dưỡng, nhưng phải có dấu hiệu nhận diện rõ ràng như:
- Thêu chữ “Sinh viên”, “Student”, “Thực tập sinh” ở ngực hoặc tay áo.
- Logo trường, tên khoa đào tạo, màu viền cổ – tay khác biệt.
- Bảng tên lớn, ghi rõ “Sinh viên” để người bệnh không nhầm là nhân viên chính thức.
Điều này giúp người bệnh, thân nhân và nhân viên y tế nhận biết sinh viên không phải là người hành nghề độc lập, tránh hiểu nhầm về phạm vi hành nghề, đồng thời hỗ trợ công tác giám sát, hướng dẫn của giảng viên, điều dưỡng trưởng, bác sĩ phụ trách.

Học viên sau đại học (bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa, học viên cao học, nghiên cứu sinh) thường được xem như một phần của đội ngũ nhân viên y tế trong hoạt động lâm sàng, do đó phải mặc áo blouse theo quy định giống bác sĩ, kèm bảng tên và thẻ học viên. Một số bệnh viện yêu cầu học viên nội trú thêu tên bệnh viện, tên khoa đào tạo, năm khóa học trên áo blouse để thuận tiện quản lý, phân công trực, truy vết khi có sự cố phơi nhiễm hoặc tai biến chuyên môn.
Người quan sát lâm sàng (observer, khách tham quan chuyên môn, học viên tham quan ngắn hạn) chỉ được phép mặc áo blouse khi có sự chấp thuận của bệnh viện và phải tuân thủ đầy đủ quy định kiểm soát nhiễm khuẩn. Thông thường, họ được cấp áo blouse riêng của bệnh viện, có ký hiệu “Observer” hoặc “Khách chuyên môn”, không được tự ý sử dụng áo blouse cá nhân không qua kiểm soát giặt là. Khi vào khu vực cách ly, phòng mổ, ICU, họ phải tuân thủ thêm các yêu cầu về PPE (áo choàng vô khuẩn, khẩu trang N95, mũ, bao giày…), không chỉ đơn thuần mặc blouse.
Quy định áo blouse riêng cho nhân viên hợp đồng, cộng tác viên và khách chuyên môn
Nhân viên hợp đồng, cộng tác viên, bác sĩ thỉnh giảng, chuyên gia tư vấn khi tham gia hoạt động chuyên môn tại bệnh viện cũng phải tuân thủ quy định mặc áo blouse như nhân viên chính thức. Bệnh viện thường có chính sách:
- Cấp phát hoặc cho mượn áo blouse có logo bệnh viện, màu sắc thống nhất, kèm bảng tên tạm thời.
- Quy định nơi nhận – trả áo, quy trình giặt là tập trung để kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Hạn chế hoặc không cho phép sử dụng áo blouse cá nhân không được giặt theo quy trình bệnh viện, đặc biệt trong các khoa nguy cơ cao như ICU, Hồi sức, Truyền nhiễm, Ung bướu.
Đối với cộng tác viên làm việc bán thời gian tại phòng khám, đơn vị kỹ thuật cao, việc mặc áo blouse chuẩn bệnh viện giúp đảm bảo tính thống nhất hình ảnh thương hiệu, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng khi tham gia ký hồ sơ bệnh án, phiếu chỉ định, biên bản hội chẩn.

Khách chuyên môn như chuyên gia nước ngoài, đoàn kiểm tra, đoàn đánh giá chất lượng, đoàn khảo sát lâm sàng… khi vào khu vực lâm sàng thường được cấp áo blouse hoặc áo choàng dùng một lần. Quy định thường bao gồm:
- Không mang áo blouse từ cơ sở khác vào khu vực lâm sàng của bệnh viện để tránh mang mầm bệnh ngoại lai.
- Không sử dụng lại áo dùng một lần; sau khi kết thúc tham quan phải tháo bỏ và cho vào thùng rác y tế đúng phân loại.
- Tuân thủ hướng dẫn của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn về khu vực được phép vào, thời gian lưu lại, khoảng cách với người bệnh.
Bệnh viện có thể quy định màu sắc hoặc ký hiệu riêng cho áo blouse của khách chuyên môn để phân biệt với nhân viên nội bộ, giúp lực lượng an ninh, điều dưỡng trưởng, điều phối viên dễ dàng nhận diện, hỗ trợ và giám sát việc tuân thủ quy định an toàn sinh học.
Thời điểm và khu vực phải mặc áo blouse tại bệnh viện
Nhân viên y tế phải mặc áo blouse hoặc đồng phục chuyên môn trong toàn bộ thời gian làm việc lâm sàng, đặc biệt khi khám, chăm sóc, chẩn đoán, điều trị và tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với người bệnh, môi trường xung quanh, hồ sơ, thuốc, mẫu bệnh phẩm và dụng cụ y tế. Áo blouse tạo lớp rào cản cơ học bảo vệ trang phục cá nhân, hỗ trợ kiểm soát nhiễm khuẩn và chuẩn hóa hình ảnh chuyên nghiệp. Ở khu khám ngoại trú, buồng bệnh nội trú và khi đi buồng, hội chẩn tại giường, giao ban trong khoa, thực hiện thủ thuật, việc mặc blouse gần như luôn bắt buộc. Ngược lại, tại phòng mổ, ICU, khu cách ly, phòng xét nghiệm vi sinh, blouse thường được thay bằng scrubs hoặc áo choàng bảo hộ chuyên dụng để đáp ứng yêu cầu vô khuẩn và an toàn sinh học cao hơn.

Mặc áo blouse trong giờ làm việc, khám bệnh và tiếp xúc người bệnh
Trong toàn bộ giờ làm việc chính thức, bao gồm ca ngày, ca tối, ca đêm và trực cuối tuần, nhân viên y tế trực tiếp tham gia chăm sóc, chẩn đoán, điều trị người bệnh phải mặc áo blouse hoặc đồng phục chuyên môn theo quy định của từng bệnh viện. Về mặt kiểm soát nhiễm khuẩn, nguyên tắc cốt lõi là: hễ có tiếp xúc người bệnh, môi trường xung quanh người bệnh, hồ sơ bệnh án giấy, thuốc men, dịch truyền, mẫu bệnh phẩm, dụng cụ y tế hoặc tham gia bất kỳ hoạt động chuyên môn nào trong khu vực lâm sàng thì phải mặc áo blouse hoặc trang phục chuyên môn tương đương. Điều này giúp tạo lớp rào cản cơ học giữa trang phục cá nhân và tác nhân gây bệnh, đồng thời chuẩn hóa hình ảnh chuyên môn.

Trong các buổi khám bệnh ngoại trú, bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên tại phòng khám phải mặc áo blouse sạch, được giặt theo quy trình giặt là bệnh viện, cài đủ cúc, không để hở ngực, không xắn tay áo quá khuỷu tay (trừ khi thực hiện thủ thuật cần rửa tay ngoại khoa và đã thay bằng áo choàng vô khuẩn). Tay áo dài, xắn cao quá mức hoặc áo blouse quá rộng đều có thể làm tăng nguy cơ vấy bẩn, vướng víu khi thao tác kỹ thuật, do đó nhiều bệnh viện quy định chiều dài tay áo và độ rộng áo ở mức chuẩn.
Khi tư vấn qua điện thoại, hội chẩn trực tuyến hoặc làm việc trên hồ sơ bệnh án điện tử tại khu vực hành chính không tiếp xúc người bệnh, một số cơ sở cho phép nhân viên cởi blouse để tránh mang vi khuẩn từ khu lâm sàng sang khu sạch. Tuy nhiên, ngay khi quay lại khu khám, khu thủ thuật hoặc buồng bệnh, nhân viên phải mặc lại áo blouse đúng quy định, kiểm tra nhanh tình trạng sạch, khô, không dính máu, dịch tiết. Ở các bệnh viện lớn, áo blouse thường được cấp phát theo ca, có hệ thống giặt là trung tâm để bảo đảm kiểm soát nhiễm khuẩn.
Về mặt chuyên môn, áo blouse không chỉ là trang phục mà còn là một phần của hệ thống nhận diện: màu sắc, kiểu dáng, logo, bảng tên, thẻ chức danh giúp người bệnh và thân nhân phân biệt bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, dược sĩ lâm sàng. Một số bệnh viện quy định màu blouse hoặc màu scrubs khác nhau cho từng nhóm nghề để thuận tiện trong điều phối và quản lý an toàn người bệnh.
Khu khám ngoại trú, buồng bệnh, khoa điều trị và khu hành chính áp dụng thế nào?
Tùy từng khu vực chức năng, mức độ bắt buộc mặc áo blouse có thể khác nhau, nhưng luôn dựa trên hai yếu tố chính: mức độ tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và nguy cơ phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh hoặc hóa chất. Bảng sau minh họa cách áp dụng thường gặp trong thực hành bệnh viện:
| Khu vực | Yêu cầu mặc áo blouse | Ghi chú chuyên môn |
| Khu khám ngoại trú | Bắt buộc cho bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên | Nhận diện rõ ràng, tiếp xúc nhiều người bệnh, nguy cơ lây nhiễm trung bình |
| Buồng bệnh nội trú | Bắt buộc cho toàn bộ nhân viên lâm sàng | Tiếp xúc trực tiếp người bệnh, thủ thuật tại giường, cần tuân thủ kiểm soát nhiễm khuẩn |
| Khoa điều trị đặc biệt (ICU, HSTC) | Thường dùng scrubs + áo choàng, blouse có thể hạn chế | Ưu tiên trang phục dễ thay, dễ khử khuẩn, phù hợp PPE |
| Khu hành chính trong khoa lâm sàng | Khuyến khích hoặc bắt buộc tùy bệnh viện | Nếu thường xuyên ra vào buồng bệnh thì vẫn phải mặc blouse |
| Phòng ban hành chính (tài chính, nhân sự…) | Thường không bắt buộc blouse | Dùng đồng phục công sở, nhưng vẫn phải đeo bảng tên |
Ở khu khám ngoại trú, mật độ người bệnh cao, luân chuyển nhanh, nguy cơ lây nhiễm qua tiếp xúc gián tiếp (tay nắm cửa, bàn khám, ghế chờ…) ở mức trung bình, nên áo blouse đóng vai trò như lớp bảo vệ ngoài cùng, có thể được thay hoặc giặt thường xuyên. Nhân viên cần tránh mang áo blouse ra khỏi khu khám để đi ăn, đi lại ngoài khuôn viên bệnh viện nhằm hạn chế phát tán mầm bệnh ra cộng đồng.
Tại buồng bệnh nội trú, bác sĩ và điều dưỡng thường phải mặc blouse khi đi buồng, thực hiện y lệnh, làm thủ thuật tại giường, vận chuyển người bệnh, lấy mẫu xét nghiệm. Khi chuyển sang làm việc tại phòng hành chính của khoa (viết bệnh án, nhập liệu, họp nội bộ), có thể cởi blouse và treo đúng nơi quy định, tách biệt khu sạch – khu bẩn, tránh treo lẫn với áo khoác cá nhân. Một số khoa quy định khu vực treo áo blouse riêng, có nhãn tên từng người để giảm nguy cơ nhầm lẫn.
Ở khoa điều trị đặc biệt như ICU, HSTC, CCU, nhân viên thường mặc scrubs (đồng phục phẫu thuật) vì loại vải này mỏng, nhẹ, chịu được giặt ở nhiệt độ cao, dễ thay nhiều lần trong ngày. Áo blouse có thể bị hạn chế sử dụng trong buồng bệnh để giảm bớt bề mặt vải có thể nhiễm bẩn. Khi cần ra khỏi khu vực này sang hội trường, khu hành chính, nhân viên có thể khoác thêm blouse sạch bên ngoài scrubs để giữ hình ảnh chuyên nghiệp.
Tại khu hành chính trong khoa lâm sàng, nếu nhân viên chỉ làm việc văn phòng, không ra buồng bệnh, có thể không bắt buộc mặc blouse. Tuy nhiên, với các vị trí thường xuyên ra vào buồng bệnh (bác sĩ điều trị, điều dưỡng trưởng, dược sĩ lâm sàng, kỹ thuật viên), việc mặc blouse vẫn được yêu cầu để bảo đảm an toàn và nhận diện. Phòng ban hành chính trung tâm (tài chính, nhân sự, kế hoạch tổng hợp…) thường không yêu cầu blouse, nhưng vẫn phải đeo bảng tên, thẻ nhân viên, tuân thủ quy định trang phục công sở kín đáo, lịch sự.
Khi đi buồng, hội chẩn, giao ban và thực hiện thủ thuật có cần blouse không?
Đi buồng là hoạt động lâm sàng cốt lõi, diễn ra trực tiếp tại giường bệnh, nên bắt buộc phải mặc áo blouse hoặc scrubs kèm áo choàng phù hợp tùy mức độ cách ly. Bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ lâm sàng, kỹ thuật viên hô hấp, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, nhân viên dinh dưỡng lâm sàng tham gia đi buồng đều phải mặc trang phục chuyên môn, không được mặc thường phục hoặc chỉ mặc áo công sở. Áo blouse phải sạch, không dính máu, dịch tiết, không nhàu nát, không rách, không gắn quá nhiều vật dụng ở túi áo gây mất thẩm mỹ và tăng nguy cơ nhiễm bẩn.

Trong hội chẩn tại giường bệnh, đặc biệt với ca bệnh nặng, đa chuyên khoa, nhân viên y tế phải mặc blouse hoặc trang phục chuyên môn tương đương, kết hợp các phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) như khẩu trang, găng tay, kính bảo hộ, áo choàng chống thấm nếu người bệnh thuộc diện cách ly giọt bắn, cách ly tiếp xúc hoặc cách ly đường không khí. Khi hội chẩn tại phòng họp, không tiếp xúc trực tiếp người bệnh, một số bệnh viện cho phép cởi blouse để tránh mang mầm bệnh vào khu họp chung; tuy nhiên, khi quay lại khoa lâm sàng, nhân viên phải mặc lại blouse hoặc scrubs theo đúng luồng di chuyển sạch – bẩn.
Giao ban tại khoa lâm sàng thường diễn ra ngay trong khu vực điều trị, gần buồng bệnh hoặc tại phòng giao ban nằm trong khu lâm sàng, do đó nhân viên y tế vẫn phải mặc blouse. Điều này vừa bảo đảm sẵn sàng di chuyển đến người bệnh khi có tình huống khẩn cấp, vừa duy trì hình ảnh chuyên nghiệp, thống nhất. Nếu giao ban tại hội trường chung, không tiếp xúc người bệnh, có thể linh hoạt hơn, nhưng đa số bệnh viện vẫn khuyến khích mặc blouse hoặc ít nhất là scrubs, đặc biệt trong các buổi giao ban có nội dung chuyên môn, có sự tham dự của nhiều khoa.
Khi thực hiện thủ thuật như tiêm, truyền, đặt catheter ngoại vi, đặt sonde, thay băng, dẫn lưu, thủ thuật xâm lấn nhỏ, nội soi tại giường, áo blouse là lớp bảo vệ ngoài cùng cho trang phục cá nhân, giúp hạn chế máu, dịch tiết bắn vào quần áo bên trong. Tuy nhiên, với thủ thuật vô khuẩn hoặc phẫu thuật, áo blouse thường được thay bằng áo choàng phẫu thuật vô khuẩn hoặc gown chống thấm, và blouse có thể được mặc bên trong hoặc cởi ra tùy quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn của từng bệnh viện. Nguyên tắc là mọi bề mặt vải tiếp xúc gần vùng phẫu thuật phải là vật liệu vô khuẩn hoặc đã được xử lý phù hợp.
Trong thực hành, nhiều bệnh viện áp dụng các bước chuẩn trước thủ thuật:
- Rửa tay thường quy hoặc rửa tay ngoại khoa theo đúng thời gian, kỹ thuật.
- Cởi hoặc che phủ các phụ kiện cá nhân (đồng hồ, vòng tay, nhẫn) để tránh nhiễm bẩn.
- Kiểm tra áo blouse hoặc áo choàng: sạch, khô, không rách, kích cỡ phù hợp.
- Đeo PPE bổ sung (khẩu trang, kính, mũ, găng tay) tùy mức độ nguy cơ.
Những khu vực yêu cầu thay blouse bằng scrubs hoặc áo choàng bảo hộ
Một số khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, nguy cơ phơi nhiễm hóa chất, hoặc yêu cầu vô khuẩn nghiêm ngặt sẽ không sử dụng áo blouse như trang phục chính, mà thay bằng scrubs hoặc áo choàng bảo hộ chuyên dụng. Điều này nhằm giảm tối đa việc mang mầm bệnh từ ngoài vào vùng sạch, đồng thời bảo đảm trang phục có thể được xử lý, khử khuẩn ở mức cao hơn. Các khu vực này thường bao gồm:
- Phòng mổ, khu phẫu thuật, can thiệp tim mạch: sử dụng scrubs, áo choàng phẫu thuật vô khuẩn, mũ, khẩu trang, bao giày; không mặc blouse trong phòng mổ để tránh mang vi khuẩn từ ngoài vào. Nhân viên phải thay toàn bộ trang phục đường phố bằng scrubs tại phòng thay đồ, sau đó mới được vào khu tiền mê, phòng mổ, phòng hồi tỉnh.
- Khoa hồi sức tích cực, hồi sức cấp cứu: ưu tiên scrubs dễ thay, dễ giặt, kết hợp áo choàng chống thấm khi làm thủ thuật có nguy cơ bắn máu, dịch. Trong các đợt dịch bệnh hô hấp, nhân viên có thể phải mặc thêm áo choàng cách ly, khẩu trang N95, kính chắn giọt bắn, do đó blouse thông thường trở nên không cần thiết và có thể gây cồng kềnh.
- Khu cách ly truyền nhiễm, khu điều trị bệnh truyền nhiễm đặc biệt: sử dụng áo choàng cách ly, PPE đầy đủ (khẩu trang chuyên dụng, kính, tấm che mặt, găng tay, bao giày), blouse chỉ dùng bên ngoài khu sạch hoặc trong khu hành chính. Khi vào – ra khu cách ly, nhân viên phải tuân thủ quy trình mặc – cởi PPE, khử khuẩn tay, xử lý trang phục dùng một lần hoặc gửi giặt đúng luồng.
- Phòng xét nghiệm vi sinh, phòng nuôi cấy, phòng an toàn sinh học: dùng áo choàng phòng thí nghiệm, áo choàng chống thấm, không dùng blouse thông thường. Ở các phòng an toàn sinh học cấp cao, áo choàng có thể là loại liền quần, kèm khẩu trang lọc, hệ thống thông khí riêng, nhằm bảo vệ nhân viên khỏi tác nhân gây bệnh nguy hiểm.

Trong các khu vực này, nếu nhân viên y tế mặc blouse khi di chuyển từ khu khác đến, họ phải cởi blouse, thay bằng scrubs hoặc áo choàng theo đúng quy trình trước khi vào vùng sạch hoặc vùng vô khuẩn. Thông thường, quy trình bao gồm: vào phòng thay đồ, cởi áo khoác ngoài và blouse, cất vào tủ cá nhân hoặc khu vực treo riêng, thay scrubs hoặc áo choàng chuyên dụng, mang mũ, khẩu trang, sau đó mới được phép đi qua cửa kiểm soát vào khu vực kỹ thuật. Cách tổ chức luồng di chuyển một chiều (sạch → bán bẩn → bẩn) giúp hạn chế tối đa việc mang mầm bệnh từ bên ngoài vào và từ khu nguy cơ cao ra khu vực chung.
Yêu cầu về màu sắc, kiểu dáng và nhận diện áo blouse bệnh viện
Hệ thống màu sắc, kiểu dáng và nhận diện áo blouse bệnh viện được xây dựng như một phần của chiến lược an toàn người bệnh, quản lý rủi ro và thương hiệu. Màu áo có thể phân theo chức danh, khoa phòng hoặc tích hợp với bộ nhận diện, nhưng luôn phải dễ phân biệt, không gây nhầm với người bệnh, hỗ trợ điều phối công việc và giao tiếp. Thiết kế cổ, tay, chiều dài và form dáng ưu tiên kín đáo, thuận tiện thao tác, giảm nguy cơ nhiễm khuẩn và tai nạn nghề nghiệp; chất liệu phải bền, không xuyên thấu, chịu được quy trình giặt khử khuẩn. Quy định thêu tên, chức danh, logo và bảng tên được chuẩn hóa về vị trí, kích thước, màu sắc, giúp tăng minh bạch, nhận diện thẩm quyền. Áo luôn phải sạch, khô, phẳng, không rách, không tùy tiện “thời trang hóa”, bảo đảm hình ảnh chuyên nghiệp và an toàn sinh học.

Màu blouse theo chức danh, khoa phòng hoặc quy định nhận diện thương hiệu
Hệ thống màu sắc áo blouse và đồng phục y tế không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn là một phần của quản lý rủi ro, an toàn người bệnh và nhận diện thương hiệu. Khi xây dựng quy định màu sắc, bệnh viện thường dựa trên các nguyên tắc: dễ phân biệt từ xa, không gây nhầm lẫn với người bệnh, phù hợp chuẩn mực chuyên môn và đồng bộ với hệ thống nhận diện chung.

Một số mô hình phân loại màu sắc theo chức danh, khoa phòng thường gặp trong thực hành quản lý bệnh viện:
- Blouse trắng cho bác sĩ, blouse màu xanh nhạt hoặc xanh dương cho điều dưỡng, blouse màu khác (xám, xanh lá nhạt) cho kỹ thuật viên:
- Blouse trắng gắn với hình ảnh “bác sĩ” trong nhận thức cộng đồng, tạo cảm giác tin cậy, sạch sẽ, chuyên nghiệp.
- Màu xanh dương, xanh lá nhạt cho điều dưỡng, kỹ thuật viên giúp phân tầng vai trò trong nhóm chăm sóc, hỗ trợ điều phối công việc, đặc biệt tại các khoa cấp cứu, hồi sức nơi cần nhận diện nhanh.
- Hệ thống màu này cũng hỗ trợ quản lý nội bộ: lãnh đạo khoa, điều dưỡng trưởng dễ quan sát phân bố nhân lực, người bệnh và thân nhân dễ nhận biết đúng người để hỏi thông tin.
- Blouse trắng thống nhất cho toàn bộ nhân viên y tế, nhưng phân biệt bằng màu scrubs bên trong, màu quần hoặc màu viền cổ tay, cổ áo:
- Phù hợp với các bệnh viện muốn giữ hình ảnh truyền thống “áo blouse trắng” nhưng vẫn cần phân biệt chức năng công việc.
- Màu scrubs bên trong (xanh dương đậm cho phẫu thuật, xanh lá cho gây mê – hồi sức, màu khác cho cận lâm sàng…) giúp nhận diện khi cởi blouse trong phòng mổ, phòng thủ thuật vô khuẩn.
- Màu viền cổ, tay áo hoặc đường may trang trí được quy định rõ ràng theo từng nhóm chức danh, đảm bảo tính thống nhất và tránh tùy tiện cá nhân hóa.
- Đồng phục màu theo khoa (ví dụ: khoa Nhi màu sáng, khoa Sản màu hồng nhạt, khoa Hồi sức màu xanh đậm), blouse có thể cùng màu hoặc trắng nhưng có logo và bảng tên rõ ràng:
- Cách tiếp cận này nhấn mạnh nhận diện theo khu vực chăm sóc, giúp người bệnh dễ nhớ “màu của khoa mình”, thuận tiện khi di chuyển trong bệnh viện lớn.
- Các khoa có tính chất đặc thù (Nhi, Tâm thần, Ung bướu…) có thể chọn màu sắc mang yếu tố tâm lý trị liệu: màu dịu, ấm, tạo cảm giác an toàn, giảm lo âu.
- Blouse có thể giữ màu trắng để bảo toàn hình ảnh chuyên môn, nhưng kết hợp logo, tên khoa, màu scrubs bên trong để vẫn đảm bảo phân biệt rõ ràng.
Ở khối bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế, màu sắc áo blouse thường được tích hợp vào hệ thống nhận diện thương hiệu tổng thể:
- Màu áo, màu viền, màu cúc được chọn đồng bộ với màu logo, màu chủ đạo của nội thất, bảng hiệu, ấn phẩm truyền thông.
- Thiết kế có thể hiện đại hơn, nhưng vẫn phải tuân thủ nguyên tắc: không quá sặc sỡ, không dùng màu trùng hoặc dễ nhầm với màu đồng phục người bệnh, không sử dụng họa tiết, hình in gây mất nghiêm túc hoặc không phù hợp môi trường y khoa.
- Trong một số mô hình quốc tế, màu áo còn gắn với cấp độ thẩm quyền lâm sàng (consultant, resident, intern, nurse practitioner…), giúp giảm nhầm lẫn trong giao tiếp chuyên môn và với người bệnh.
Khi xây dựng quy định màu sắc, bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn và phòng tổ chức nhân sự thường phối hợp để đảm bảo màu áo không gây khó khăn cho việc phát hiện vết bẩn, máu, dịch tiết; đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ và thương hiệu.
Kiểu cổ áo, chiều dài tay áo và form dáng phù hợp môi trường lâm sàng
Thiết kế áo blouse phải cân bằng giữa yếu tố thẩm mỹ, văn hóa, giới tính và các yêu cầu an toàn, tiện dụng, kín đáo, hỗ trợ thao tác chuyên môn. Mọi chi tiết thiết kế đều cần được đánh giá dưới góc độ kiểm soát nhiễm khuẩn, an toàn người bệnh và an toàn lao động.

- Cổ áo:
- Thường sử dụng cổ bẻ hoặc cổ chữ V kín, độ sâu cổ được khống chế để khi cúi người, nâng bệnh nhân không gây lộ da quá mức, đảm bảo hình ảnh chuyên nghiệp.
- Cổ quá rộng, cổ trễ, cổ khoét sâu không chỉ gây mất nghiêm túc mà còn làm tăng nguy cơ da tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, hóa chất.
- Một số bệnh viện áp dụng cổ tàu cho điều dưỡng hoặc kỹ thuật viên nhằm tạo khác biệt với bác sĩ, đồng thời vẫn giữ được sự kín đáo, gọn gàng.
- Vùng cổ cần đủ rộng để đeo ống nghe, thẻ từ, nhưng không được vướng khi thao tác cấp cứu, hồi sức tim phổi.
- Tay áo:
- Tay dài hoặc tay lửng là lựa chọn phổ biến, nhưng phải thiết kế ôm vừa, không loe, không phồng, không có chi tiết ren, bèo, nơ dễ vướng vào thiết bị, dây truyền dịch, máy monitor.
- Ở khu vực nguy cơ cao (hồi sức, phòng mổ, thủ thuật xâm lấn), tay áo thường được thiết kế dễ xắn lên trên khuỷu tay để tuân thủ quy định “tay trần dưới khuỷu” khi rửa tay phẫu thuật hoặc rửa tay thường quy.
- Vải tay áo cần đủ bền để chịu được việc xắn lên, kéo xuống nhiều lần trong ngày mà không bị dão, nhăn quá mức.
- Chiều dài áo:
- Bác sĩ thường sử dụng áo dài ngang đùi hoặc qua gối (long coat) trong các khu khám bệnh, hội chẩn, giảng dạy; trong phòng mổ, thủ thuật thường thay bằng scrubs và áo choàng vô khuẩn.
- Điều dưỡng, kỹ thuật viên, dược sĩ lâm sàng thường dùng áo ngắn hơn (short coat) để thuận tiện di chuyển, cúi người, xoay trở bệnh nhân, thao tác với máy móc.
- Áo quá dài dễ chạm giường bệnh, sàn nhà, bề mặt nhiễm bẩn, làm tăng nguy cơ mang mầm bệnh từ buồng bệnh này sang buồng bệnh khác.
- Chiều dài áo cần được chuẩn hóa theo chiều cao trung bình, có dung sai nhất định nhưng không để cá nhân tự ý cắt ngắn gây mất đồng bộ.
- Form dáng:
- Form phải vừa vặn, cho phép cử động toàn dải: giơ tay cao, cúi sâu, xoay người, nâng đỡ bệnh nhân mà không bị kéo căng, không rách đường may.
- Áo quá bó sát gây hạn chế vận động, dễ lộ đường viền trang phục bên trong, không phù hợp chuẩn mực kín đáo của môi trường y tế.
- Áo quá rộng dễ mắc vào tay nắm giường, thanh chắn, dây truyền dịch, máy móc, có thể gây tai nạn cho cả nhân viên và người bệnh.
- Thiết kế nên có đường chiết nhẹ để tạo phom gọn, nhưng không nhấn eo quá mức theo kiểu thời trang, tránh cảm giác “thời trang hóa” áo blouse.
Về chất liệu, vải blouse cần đáp ứng đồng thời các tiêu chí:
- Độ dày vừa đủ để không xuyên thấu, hạn chế lộ màu sắc, hoa văn trang phục bên trong, đặc biệt khi làm việc dưới ánh đèn mạnh.
- Thoáng khí, thấm hút mồ hôi tốt, phù hợp điều kiện khí hậu nóng ẩm, giúp nhân viên y tế duy trì sự thoải mái trong ca trực kéo dài.
- Chịu được giặt ở nhiệt độ cao, sấy nóng, là hơi và xử lý khử khuẩn bằng hóa chất mà không bị co rút, phai màu, xù lông quá nhanh.
- Ít nhăn, giữ phom tốt sau nhiều chu kỳ giặt, giúp duy trì hình ảnh gọn gàng, chuyên nghiệp mà không tốn quá nhiều thời gian ủi là.
- Vải quá mỏng, dễ rách, dễ bám bẩn sâu vào sợi vải hoặc khó tẩy sạch vết máu, dịch tiết thường không được khuyến khích sử dụng trong môi trường lâm sàng.
Quy định thêu tên, chức danh, logo bệnh viện và bảng tên nhân viên
Hệ thống nhận diện cá nhân trên áo blouse là công cụ quan trọng để đảm bảo minh bạch trong chăm sóc, tăng niềm tin của người bệnh và hỗ trợ quản lý nội bộ. Việc thêu hoặc in tên, chức danh, logo bệnh viện thường được chuẩn hóa về vị trí, kích thước, màu sắc.

- Bên trái ngực:
- Thường là vị trí dành cho logo bệnh viện, tên bệnh viện và có thể kèm tên khoa, trung tâm.
- Kích thước logo được quy định để đảm bảo dễ nhận diện nhưng không quá lớn gây rối mắt.
- Màu chỉ thêu hoặc màu in phải đồng bộ với bộ nhận diện thương hiệu, đảm bảo độ tương phản tốt trên nền màu áo.
- Bên phải ngực:
- Thêu họ tên nhân viên, chức danh (Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên, Dược sĩ, Hộ sinh…), có thể kèm học vị nếu bệnh viện cho phép.
- Nhiều đơn vị thêu song ngữ (tiếng Việt và/hoặc tiếng Anh) để thuận tiện giao tiếp với người bệnh quốc tế.
- Cỡ chữ, font chữ, màu chỉ thêu được chuẩn hóa để tránh tình trạng mỗi cá nhân tự chọn kiểu chữ, gây mất đồng bộ.
- Bảng tên:
- Đeo ở ngực, thường phía trên hoặc gần vùng thêu tên, ghi rõ họ tên, chức danh, khoa phòng; một số bệnh viện yêu cầu có ảnh nhận diện.
- Chất liệu bảng tên (nhựa, kim loại, thẻ từ) được lựa chọn sao cho dễ vệ sinh, không có cạnh sắc gây trầy xước, không dễ gãy vỡ.
- Cách gắn bảng tên (kẹp, ghim, nam châm) phải đảm bảo chắc chắn, không rơi vào vùng vô khuẩn, không gây nhiễu thiết bị y tế nhạy cảm.
Việc thêu tên và chức danh giúp người bệnh và thân nhân nhận biết rõ:
- Ai là người trực tiếp chăm sóc, ai có thẩm quyền ra y lệnh, ai là sinh viên thực tập hoặc học viên.
- Ai là nhân viên thuộc khoa nào, thuận tiện khi cần phản hồi, khiếu nại hoặc khen ngợi.
Bệnh viện thường ban hành quy định chi tiết về:
- Kích thước chữ tối thiểu và tối đa, để đảm bảo đọc được ở khoảng cách hợp lý.
- Màu chỉ thêu (thường là xanh đậm, đen hoặc màu thương hiệu) để tạo độ tương phản tốt với nền áo.
- Vị trí thêu tính từ đường may vai, đường giữa thân áo, nhằm đảm bảo tính thống nhất giữa các size áo.
- Đối với sinh viên thực tập, học viên: bắt buộc thêu thêm chữ “Sinh viên” hoặc “Student” cỡ lớn, rõ ràng, thường đặt ngay dưới tên hoặc ở vị trí dễ nhìn, tránh nhầm lẫn với nhân viên chính thức.
Tiêu chuẩn áo blouse sạch, kín đáo và không gây cản trở thao tác chuyên môn
Áo blouse là một phần của hàng rào bảo hộ cá nhân cơ bản, đồng thời là biểu tượng chuyên nghiệp của nhân viên y tế. Do đó, các bệnh viện thường có quy định cụ thể về tình trạng áo khi sử dụng trong khu vực lâm sàng. Áo phải luôn sạch, khô, phẳng phiu, không rách, không mất cúc, đáp ứng yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn và hình ảnh chuyên môn.

- Không mặc áo blouse có vết máu, dịch tiết, vết bẩn nhìn thấy được; khi áo bị nhiễm bẩn phải thay ngay và gửi giặt theo quy trình đồ vải nhiễm khuẩn.
- Không mặc áo blouse ẩm ướt, có mùi ẩm mốc, mùi hóa chất khó chịu vì có thể gây khó chịu cho người bệnh, đồng nghiệp và tiềm ẩn nguy cơ vi sinh vật phát triển.
- Không sử dụng áo blouse có vết rách, sờn, mất cúc, dây kéo hỏng; các khuyết tật này có thể làm lộ trang phục bên trong, gây vướng víu khi thao tác hoặc tạo hình ảnh cẩu thả.
- Không tự ý cắt ngắn, bóp eo, may thêm chi tiết thời trang (xẻ tà sâu, đính ren, nơ, hạt trang trí) gây cản trở thao tác hoặc làm sai lệch chuẩn mực đồng phục.
Yêu cầu về độ kín đáo được đặt ra nhằm bảo vệ cả hình ảnh chuyên nghiệp lẫn an toàn sinh học:
- Áo phải đủ dày, không trong suốt, không để lộ màu sắc, hoa văn trang phục bên trong một cách rõ ràng.
- Khi cúi người, nâng bệnh nhân, thực hiện thủ thuật, áo không được kéo lên quá cao hoặc để lộ vùng da rộng ở ngực, lưng, bụng.
- Thiết kế cổ, nách, tà áo phải hạn chế tối đa khả năng da tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, hóa chất trong quá trình làm việc.
Để không gây cản trở thao tác chuyên môn, áo blouse cần:
- Không có chi tiết thừa như dây buộc dài, nơ, khóa kéo lộ thiên, cúc trang trí dễ mắc vào thiết bị, dây truyền dịch, thanh chắn giường.
- Có túi áo bố trí hợp lý (thường 2 túi dưới, 1 túi trên) đủ rộng để đựng bút, sổ tay nhỏ, đèn pin, nhưng không khuyến khích nhét quá nhiều vật dụng gây nặng, làm biến dạng áo.
- Được giặt, là thường xuyên để giữ phom, tránh tình trạng áo nhàu nát, gấp nếp sâu gây khó chịu khi vận động.
- Được thay định kỳ theo tuổi thọ vải; khi vải bắt đầu mỏng, xù lông, bạc màu nhiều cần được loại bỏ khỏi sử dụng lâm sàng.
Nhiều bệnh viện áp dụng quy trình giặt tập trung, cấp phát áo theo ca hoặc theo tuần, kết hợp kiểm tra đột xuất việc tuân thủ quy định mặc áo blouse của nhân viên. Điều này giúp đảm bảo áo luôn ở trạng thái đạt chuẩn, giảm nguy cơ mang mầm bệnh ra khỏi khu vực bệnh viện và duy trì hình ảnh chuyên nghiệp, đồng nhất của toàn hệ thống.
Quy định phối áo blouse với đồng phục và trang phục cá nhân
Áo blouse được phối với scrubs, đồng phục điều dưỡng và trang phục công sở nhằm cân bằng giữa kiểm soát nhiễm khuẩn và hình ảnh chuyên nghiệp, dễ nhận diện chức danh. Khi kết hợp, cần tuân thủ màu sắc, kiểu dáng, độ dài và chất liệu đã được bệnh viện phê duyệt, tránh tự ý thay đổi. Trang phục đi kèm như quần, váy, giày, tất phải kín đáo, dễ vệ sinh, không gây cản trở thao tác hay tăng nguy cơ té ngã, lây nhiễm chéo. Phụ kiện, trang sức, móng tay, khăn choàng và vật dụng cá nhân được kiểm soát chặt để hạn chế tích tụ vi khuẩn. Tóc, khẩu trang, trang điểm và mùi cơ thể phải gọn gàng, sạch sẽ, tạo cảm giác an toàn, tôn trọng người bệnh.

Mặc blouse ngoài scrubs, đồng phục điều dưỡng hoặc trang phục công sở
Trong thực hành lâm sàng và cận lâm sàng, áo blouse thường được mặc bên ngoài các loại trang phục sau, với mục tiêu vừa đảm bảo kiểm soát nhiễm khuẩn, vừa duy trì hình ảnh chuyên nghiệp, dễ nhận diện chức danh:
- Scrubs (bộ quần áo phẫu thuật, quần áo điều dưỡng): sử dụng phổ biến tại khoa điều trị nội trú, phòng mổ, ICU, khu thủ thuật, phòng can thiệp.
- Blouse được mặc ngoài scrubs khi đi buồng, khám bệnh ngoại trú, hội chẩn, tiếp xúc thân nhân người bệnh hoặc tham gia các buổi giao ban, đào tạo.
- Ở một số khoa thủ thuật vô khuẩn cao (phòng mổ, can thiệp tim mạch), blouse có thể không được phép mặc trong vùng vô khuẩn, mà chỉ mặc khi di chuyển ngoài hành lang hoặc khu hành chính.
- Màu scrubs thường được quy định theo khoa (xanh dương, xanh lá, xám…), trong khi blouse trắng giúp tăng độ tương phản, hỗ trợ nhận diện vai trò bác sĩ, điều dưỡng trưởng, kỹ thuật viên phụ trách.

- Đồng phục điều dưỡng: áo quần đồng bộ, có thể là dạng set quần áo cổ tròn, cổ tim hoặc cổ bẻ, màu sắc do bệnh viện quy định.
- Blouse hoặc áo khoác điều dưỡng mặc ngoài khi cần tăng nhận diện chức danh (điều dưỡng trưởng, điều dưỡng kiểm soát nhiễm khuẩn, điều dưỡng phòng khám) hoặc khi tham gia các hoạt động có tính đại diện như hội nghị, tiếp đoàn kiểm tra.
- Trong môi trường có nguy cơ bắn dịch tiết (khoa cấp cứu, hồi sức), blouse có thể được thay thế bằng áo choàng chống dịch dùng một lần, nhưng khi ra khỏi khu vực nguy cơ cao, nhân viên có thể mặc lại blouse sạch bên ngoài đồng phục.
- Trang phục công sở: áo sơ mi, quần tây, váy công sở kín đáo, vest mỏng hoặc áo len mỏng bên trong.
- Bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư y sinh, nhân viên hành chính y tế, chuyên viên quản lý chất lượng có thể mặc blouse ngoài trang phục công sở khi vào khu lâm sàng, phòng khám, nhà thuốc bệnh viện.
- Trang phục công sở bên trong phải đảm bảo không lộ, không quá bó sát, không xuyên thấu; blouse đóng vai trò như một lớp bảo hộ nhẹ, nhưng không thay thế trang phục bảo hộ chuyên dụng khi làm thủ thuật xâm lấn.
Bệnh viện thường quy định rõ trong quy chế trang phục: không mặc áo blouse trực tiếp trên áo phông không cổ, áo ba lỗ, áo croptop, áo quá ngắn, quần jean rách, quần short, váy ngắn trên gối, trang phục có hình in, khẩu hiệu, màu sắc không phù hợp môi trường y tế. Áo blouse không được dùng để “che” trang phục không đúng quy định, vì điều này làm giảm tính chuyên nghiệp và có thể ảnh hưởng đến cảm nhận an toàn của người bệnh.
Một số cơ sở còn quy định phân tầng: blouse dài cho bác sĩ, blouse ngắn cho điều dưỡng/kỹ thuật viên, hoặc gắn màu viền cổ, tay áo khác nhau để phân biệt chức danh. Khi phối với đồng phục, nhân viên cần tuân thủ đúng mẫu đã được phê duyệt, tránh tự ý thay đổi kiểu dáng, độ dài hoặc chất liệu.
Quần áo, giày dép và phụ kiện được phép dùng cùng áo blouse
Trang phục đi kèm áo blouse phải đảm bảo an toàn, kín đáo, dễ vệ sinh, đồng thời không cản trở thao tác chuyên môn, không làm tăng nguy cơ té ngã, vấp ngã hoặc lây nhiễm chéo. Một số quy định thường gặp và được chuẩn hóa theo hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn:
- Quần:
- Ưu tiên quần vải, quần scrubs, quần đồng phục, màu nhã nhặn (trắng, xanh, xám, đen, be), hạn chế màu quá sặc sỡ hoặc họa tiết nổi bật.
- Không bó sát quá mức để tránh hạn chế vận động, tránh quần legging mỏng, quần da, quần jean rách, quần có tua rua hoặc chi tiết kim loại lớn dễ vướng vào giường bệnh, xe tiêm.
- Chất liệu nên dễ giặt, chịu được nhiệt độ giặt khử khuẩn, không giữ mùi, không nhăn quá nhiều sau khi giặt để duy trì vẻ gọn gàng.
- Váy (nếu được phép):
- Dài qua gối, không xòe rộng, không xẻ cao để tránh lộ da khi cúi, ngồi, nâng đỡ người bệnh.
- Form váy bút chì hoặc váy chữ A nhẹ, chất liệu dày vừa phải, không xuyên thấu, dễ giặt và nhanh khô.
- Trong một số khoa phải di chuyển, nâng đỡ người bệnh nhiều (cấp cứu, hồi sức, ngoại khoa), nhiều bệnh viện khuyến cáo ưu tiên quần thay vì váy để đảm bảo an toàn lao động.
- Giày:
- Giày bít mũi, đế thấp hoặc trung bình, chống trơn trượt, chất liệu dễ lau chùi bằng dung dịch sát khuẩn (nhựa, da tổng hợp, cao su).
- Hạn chế hoặc cấm dép lê, giày cao gót nhọn, giày hở mũi, sandal dây mảnh vì dễ gây trượt ngã, lộ da chân, tăng nguy cơ phơi nhiễm khi có dịch tiết, kim rơi.
- Ở khu phẫu thuật, hồi sức, có thể yêu cầu mang bao giày hoặc giày chuyên dụng, tách biệt với giày đi ngoài đường để giảm mang mầm bệnh vào khu sạch.
- Tất/vớ:
- Luôn sạch, không rách, màu trung tính (trắng, đen, xám, be), không in hình phản cảm.
- Nên che kín cổ chân khi làm việc trong môi trường lạnh hoặc khi có nguy cơ tiếp xúc dịch tiết, máu, hóa chất.
- Nhân viên phải thay tất thường xuyên, đặc biệt khi bị ẩm, để tránh mùi khó chịu và nguy cơ nấm da.

Phụ kiện đi kèm áo blouse phải gọn gàng, không có chi tiết sắc nhọn, không gây vướng víu khi thao tác:
- Đồng hồ: nhiều bệnh viện hạn chế đồng hồ dây da hoặc dây kim loại vì khó khử khuẩn vùng cổ tay; khuyến khích dùng đồng hồ treo tường, đồng hồ kẹp áo, hoặc đồng hồ có dây nhựa dễ lau cồn.
- Kính mắt: gọng đơn giản, không quá to, không có chi tiết sắc cạnh; nên vệ sinh kính thường xuyên bằng dung dịch phù hợp để tránh bám giọt bắn.
- Thắt lưng: nếu cần dùng, nên chọn loại bản nhỏ, không có khóa to, nhọn; tránh dây nịt có logo, họa tiết gây chú ý hoặc dễ mắc vào thành giường, xe đẩy.
Hạn chế trang sức, móng tay dài, khăn choàng và vật dụng dễ gây mất vệ sinh
Để giảm nguy cơ lây nhiễm chéo và tuân thủ các khuyến cáo kiểm soát nhiễm khuẩn, nhiều bệnh viện quy định hạn chế tối đa trang sức và phụ kiện khi mặc áo blouse, đặc biệt trong khu vực lâm sàng, phòng thủ thuật, phòng mổ:
- Không đeo nhẫn, vòng tay, vòng cổ to bản khi khám bệnh, làm thủ thuật, chăm sóc người bệnh. Bề mặt trang sức là nơi dễ tích tụ vi khuẩn, khó làm sạch hoàn toàn khi rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh.
- Không đeo bông tai dài, bông tai dạng vòng lớn vì dễ mắc vào khẩu trang, dây truyền dịch, ống dẫn lưu, tóc người bệnh hoặc trang thiết bị, gây nguy cơ chấn thương cho cả nhân viên và người bệnh.
- Không dùng khăn choàng cổ, khăn choàng vai trong khu lâm sàng vì khó giặt, dễ nhiễm bẩn từ giọt bắn, dịch tiết, và thường không được thay giặt thường xuyên như áo blouse hoặc scrubs.
- Móng tay phải cắt ngắn, không sơn màu đậm, không gắn móng giả, không đính đá. Móng dài và móng giả là nơi trú ẩn vi khuẩn, nấm, làm giảm hiệu quả rửa tay đúng kỹ thuật và có thể gây rách găng tay khi thao tác.

Các vật dụng cá nhân như điện thoại, bút, sổ tay nên được mang trong túi áo blouse một cách gọn gàng, tránh để rơi vãi trên giường bệnh, bàn khám, xe tiêm. Một số điểm cần lưu ý:
- Điện thoại: hạn chế sử dụng trong khu lâm sàng nếu không phục vụ công việc; nên lau bề mặt bằng dung dịch sát khuẩn phù hợp, tránh đặt trực tiếp lên bề mặt bẩn.
- Bút: ưu tiên bút trơn, bề mặt nhựa, dễ lau cồn; hạn chế bút bọc vải, bút có phụ kiện trang trí, bút lông dễ lem mực vì khó khử khuẩn và dễ làm bẩn áo blouse.
- Sổ tay, sổ y lệnh cá nhân: nên có bìa nhựa, kích thước vừa phải, không để dày cộm trong túi áo gây nặng, mất dáng áo; tránh đặt sổ lên giường bệnh hoặc gần vùng thủ thuật.
Yêu cầu về tóc, khẩu trang và diện mạo khi mặc blouse tiếp xúc người bệnh
Diện mạo khi mặc áo blouse phải thể hiện sự chuyên nghiệp, sạch sẽ, tôn trọng người bệnh, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn người bệnh và đánh giá chất lượng bệnh viện. Một số yêu cầu thường được cụ thể hóa trong quy chế trang phục:
- Tóc:
- Tóc dài phải buộc gọn phía sau, ưu tiên búi cao hoặc buộc thấp sát gáy, không để tóc xõa chạm vào mặt, cổ, vai người bệnh hoặc bề mặt dụng cụ.
- Có thể dùng kẹp tóc nhỏ, dây buộc tóc đơn giản, không dùng phụ kiện to, sắc cạnh, nhiều kim loại hoặc có khả năng rơi vào vùng vô khuẩn.
- Nam giới tóc gọn gàng, không quá dài, không che mắt; râu ria phải cắt tỉa sạch sẽ, tránh râu dài gây cản trở khi đeo khẩu trang hoặc che kín mặt nạ.

- Khẩu trang:
- Đeo đúng cách khi khám bệnh, làm thủ thuật, ở khu đông người hoặc khu nguy cơ cao (cấp cứu, hồi sức, phòng khám hô hấp…). Khẩu trang phải che kín mũi, miệng, ôm sát sống mũi và hai bên má.
- Không kéo khẩu trang xuống cằm, không treo khẩu trang ở cổ, không dùng khẩu trang bẩn, ẩm, rách hoặc đã sử dụng quá thời gian khuyến cáo.
- Trong một số thủ thuật tạo khí dung hoặc can thiệp đường thở, có thể yêu cầu sử dụng khẩu trang chuyên dụng (ví dụ N95) theo quy định kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Trang điểm:
- Nếu trang điểm, nên nhẹ nhàng, tự nhiên, không dùng màu mắt, màu môi quá đậm hoặc phong cách gây chú ý, tránh làm giảm cảm giác nghiêm túc, chuyên nghiệp.
- Không dùng son môi dễ lem lên khẩu trang, không dùng phấn nền quá dày gây bít tắc, dễ in dấu lên khẩu trang và bề mặt dụng cụ bảo hộ.
- Mùi cơ thể và mùi hương:
- Giữ vệ sinh cá nhân tốt, thay áo blouse khi bẩn, ẩm, có mùi; không mặc áo blouse nhiều ngày liên tiếp mà không giặt.
- Tránh dùng nước hoa đậm mùi, xịt khử mùi nồng vì có thể gây khó chịu, kích ứng cho người bệnh, đặc biệt là người bệnh hô hấp, dị ứng, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ.
Áo blouse sạch, được ủi phẳng, kết hợp với diện mạo gọn gàng, tóc và phụ kiện được kiểm soát hợp lý, giúp người bệnh cảm nhận rõ hơn về sự an toàn, tin tưởng vào chất lượng chăm sóc, đồng thời đáp ứng các tiêu chí về hình ảnh chuyên nghiệp của nhân viên y tế trong các chương trình đánh giá chất lượng bệnh viện và an toàn người bệnh.
Quy định sử dụng áo blouse theo mức độ nguy cơ lây nhiễm
Áo blouse được sử dụng như lớp bảo vệ nền cho trang phục, giúp giảm dính bẩn và hỗ trợ nhận diện nhân viên y tế, nhưng không được xem là phương tiện phòng hộ cá nhân chuyên dụng. Ở khu khám và điều trị thông thường, blouse chủ yếu kết hợp với rửa tay và khẩu trang; khi nguy cơ tăng (thủ thuật, tiếp xúc dịch tiết), phải bổ sung găng, tạp dề, áo choàng hoặc gown chống thấm. Trong các can thiệp xâm lấn, thủ thuật nguy cơ cao, blouse cần được che phủ hoàn toàn hoặc cởi bỏ, tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn. Với bệnh truyền nhiễm hoặc phơi nhiễm nặng, phải thay bằng áo choàng cách ly, gown chống thấm hoặc bộ PPE đầy đủ. Không dùng áo blouse đồng phục thay thế PPE để tránh phơi nhiễm và lây nhiễm chéo.
Áo blouse tại khu khám bệnh và khu điều trị thông thường
Tại khu khám bệnh và khu điều trị thông thường, áo blouse được xem là lớp bảo vệ cơ bản cho trang phục cá nhân, nhưng không phải là phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) chuyên dụng. Chức năng chính của áo blouse trong bối cảnh này là:
- Giảm nguy cơ dính máu, dịch tiết, hóa chất ở mức độ thấp đến trung bình lên quần áo thường.
- Tạo ranh giới rõ ràng giữa trang phục trong bệnh viện và trang phục ngoài cộng đồng, góp phần hạn chế mang tác nhân gây bệnh ra khỏi khu vực chăm sóc.
- Hỗ trợ nhận diện nhân viên y tế, phân biệt với người nhà và khách thăm, từ đó kiểm soát luồng di chuyển trong cơ sở y tế.

Nhân viên y tế phải tuân thủ các yêu cầu sau khi sử dụng áo blouse tại khu khám bệnh và khu điều trị thông thường:
- Mặc áo blouse sạch đầu ca làm việc; áo phải được giặt, sấy, khử khuẩn theo quy trình của bệnh viện, không tự ý mang áo về nhà giặt.
- Thay áo mới nếu áo bị bẩn rõ rệt trong ca (dính máu, dịch tiết, hóa chất, bụi bẩn nhìn thấy được) hoặc có mùi khó chịu.
- Không dùng áo blouse như khăn lau tay, lau mồ hôi, lau dụng cụ, không dùng vạt áo để mở cửa, cầm nắm vật dụng.
- Không để vật dụng cá nhân (điện thoại, bút, sổ tay, chìa khóa) lộ ra ngoài túi áo gây nguy cơ nhiễm bẩn chéo.
- Không mặc áo blouse ra khỏi khu vực bệnh viện (quán ăn, khu công cộng) để tránh mang mầm bệnh ra cộng đồng.
Trong các tình huống nguy cơ thấp như:
- Khám lâm sàng thông thường (hỏi bệnh, khám tổng quát, nghe tim phổi).
- Đo huyết áp, đo SpO2, đo đường huyết bằng máy cầm tay.
- Tư vấn, giáo dục sức khỏe, ghi chép hồ sơ bệnh án.
Áo blouse kết hợp với rửa tay đúng quy trình (trước và sau mỗi lần tiếp xúc người bệnh, sau khi chạm bề mặt xung quanh) và đeo khẩu trang y tế là đủ. Tuy nhiên, vẫn cần tuân thủ:
- Không để tay áo chạm vào vùng vô khuẩn, bề mặt sạch.
- Không khoanh tay, chống tay lên bàn khám, giường bệnh khi không cần thiết.
- Hạn chế di chuyển giữa nhiều khu vực với cùng một áo blouse nếu có sự khác biệt về mức độ nguy cơ (ví dụ từ khu khám bệnh sang khu thủ thuật).
Khi nguy cơ tăng lên, chẳng hạn:
- Tiêm truyền tĩnh mạch, tiêm bắp, tiêm dưới da.
- Thay băng vết thương nhỏ, xử lý vết thương nông.
- Lấy máu xét nghiệm, đặt đường truyền ngoại biên.
Cần bổ sung:
- Găng tay y tế phù hợp (vô khuẩn hoặc sạch tùy loại thủ thuật).
- Tạp dề hoặc áo choàng dùng một lần nếu có nguy cơ bắn dịch, đặc biệt khi thao tác gần vùng có nhiều dịch tiết.
- Khẩu trang, kính bảo hộ nếu dự kiến có giọt bắn ở khoảng cách gần.
Áo blouse trong các tình huống này chỉ đóng vai trò nền, không được xem là lớp bảo vệ chính trước máu, dịch tiết.
Áo blouse khi tiếp xúc máu, dịch tiết và vật sắc nhọn
Khi dự kiến có tiếp xúc với máu, dịch tiết, chất bài tiết hoặc sử dụng vật sắc nhọn, yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn tăng lên đáng kể. Áo blouse trong bối cảnh này chỉ là lớp bảo vệ nền, không đủ thay thế áo choàng chống thấm hoặc gown chuyên dụng. Nhân viên y tế phải:
- Mặc thêm áo choàng dùng một lần hoặc áo choàng chống thấm bên ngoài blouse nếu nguy cơ bắn dịch cao (ví dụ: thủ thuật xâm lấn, xử lý vết thương sâu, dẫn lưu).
- Đeo găng tay phù hợp (một lớp hoặc hai lớp tùy mức độ nguy cơ và loại thủ thuật).
- Đeo khẩu trang y tế hoặc khẩu trang có hiệu lực lọc cao hơn nếu có nguy cơ bắn giọt lớn.
- Đeo kính bảo hộ hoặc tấm che mặt khi có nguy cơ bắn vào mắt, mặt, đặc biệt trong các thủ thuật có áp lực cao hoặc sử dụng dụng cụ quay, cắt.
- Thay ngay áo blouse nếu bị dính máu, dịch tiết; không tiếp tục sử dụng trong ca, không tự ý giặt sơ tại bồn rửa tay.

Với các thủ thuật có nguy cơ cao như:
- Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, đặt catheter động mạch.
- Dẫn lưu màng phổi, dẫn lưu ổ áp xe sâu.
- Nội soi tiêu hóa, nội soi phế quản, các thủ thuật nội soi can thiệp.
- Xử lý vết thương lớn, vết thương dập nát, vết thương có nhiều mô hoại tử.
- Phẫu thuật nhỏ tại phòng thủ thuật (khâu vết thương, lấy dị vật, tiểu phẫu da).
Áo blouse thường được:
- Cởi ra trước khi mặc áo choàng vô khuẩn để tránh làm bẩn trường mổ và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn chéo.
- Hoặc giữ bên trong nhưng phải đảm bảo áo choàng vô khuẩn hoặc gown chống thấm phủ kín, không để lộ cổ tay, cổ áo, vạt áo ra ngoài.
Trong các quy trình vô khuẩn, nguyên tắc là áo blouse không được tiếp xúc trực tiếp với vùng vô khuẩn. Mọi thao tác phải tuân thủ thứ tự mang và tháo phương tiện phòng hộ để tránh làm nhiễm bẩn ngược lại cho nhân viên và môi trường.
Khi sử dụng vật sắc nhọn (kim tiêm, dao mổ, kim khâu, dụng cụ cắt), áo blouse không có chức năng chống đâm xuyên. Do đó, việc dựa vào áo blouse để “che chắn” là sai lầm. Cần chú trọng:
- Kỹ thuật an toàn với vật sắc nhọn (không bẻ kim, không đậy nắp kim bằng hai tay, bỏ ngay vào hộp an toàn).
- Giảm tối đa việc mang theo vật sắc nhọn trong túi áo blouse.
- Không cài kim, ghim, dao lam lên cổ áo, túi áo hoặc vạt áo.
Khi cần thay blouse bằng áo choàng cách ly, gown chống thấm hoặc PPE
Trong các tình huống nguy cơ cao, áo blouse phải được thay thế bằng các phương tiện phòng hộ cá nhân chuyên dụng, tùy theo đường lây truyền và mức độ phơi nhiễm dự kiến:
- Áo choàng cách ly: sử dụng khi chăm sóc người bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc bệnh truyền nhiễm lây qua tiếp xúc, giọt bắn (ví dụ: một số bệnh hô hấp cấp, bệnh tiêu chảy do vi khuẩn, virus có khả năng lây mạnh qua tay và bề mặt). Áo choàng phải đủ dài, che kín tay và thân, có khả năng hạn chế thấm dịch trong thời gian tiếp xúc.
- Gown chống thấm: dùng khi có nguy cơ bắn máu, dịch tiết nhiều, ví dụ trong cấp cứu chấn thương, thủ thuật xâm lấn sâu, xử lý vết thương rộng, thủ thuật có nhiều dịch rửa. Gown phải có lớp chống thấm ở vùng ngực, tay áo, đôi khi toàn thân, nhằm bảo vệ da và quần áo bên trong.
- PPE đầy đủ (áo choàng, khẩu trang N95 hoặc tương đương, kính, mũ, găng tay, ủng hoặc bao giày): dùng trong khu điều trị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, phòng áp lực âm, khu chăm sóc người bệnh có nguy cơ lây truyền qua không khí hoặc qua khí dung (ví dụ: một số bệnh hô hấp nặng, thủ thuật tạo khí dung trên người bệnh có tác nhân lây qua không khí).

Trong các trường hợp này, áo blouse có thể được mặc bên trong hoặc không mặc, tùy quy trình từng bệnh viện và từng khu vực chuyên môn. Một số nguyên tắc cần tuân thủ:
- Không để áo blouse cản trở việc mặc và cởi PPE đúng kỹ thuật; nếu áo quá dày, quá dài hoặc có nhiều phụ kiện, nên cởi bỏ trước khi mang PPE.
- Không để bất kỳ phần áo blouse nào lộ ra ngoài áo choàng cách ly hoặc gown chống thấm, đặc biệt ở vùng tay, cổ và vạt áo.
- Khi tháo PPE, phải coi áo blouse bên trong là có nguy cơ nhiễm bẩn; hạn chế chạm tay trần vào bề mặt áo, rửa tay ngay sau khi tháo.
- Trong khu vực cách ly nghiêm ngặt, có thể quy định không mặc blouse bên trong để giảm số lớp vải có thể giữ mầm bệnh.
Việc lựa chọn giữa áo blouse, áo choàng cách ly, gown chống thấm và bộ PPE đầy đủ phải dựa trên đánh giá nguy cơ lây nhiễm theo từng người bệnh, từng thủ thuật và từng khu vực. Sử dụng không đúng loại hoặc không đúng thời điểm có thể làm giảm hiệu quả bảo vệ, đồng thời tạo cảm giác an toàn giả cho nhân viên y tế.
Không dùng áo blouse đồng phục thay thế phương tiện phòng hộ cá nhân
Quy định kiểm soát nhiễm khuẩn nhấn mạnh: áo blouse không phải là PPE. Đây là điểm mấu chốt trong đào tạo an toàn người bệnh và an toàn nghề nghiệp. Nhân viên y tế không được:
- Dùng áo blouse thay cho áo choàng chống thấm khi làm thủ thuật có nguy cơ bắn dịch, kể cả khi “chỉ làm nhanh” hoặc “thủ thuật nhỏ”.
- Dùng áo blouse thay cho áo choàng cách ly khi vào phòng cách ly, phòng điều trị bệnh truyền nhiễm, dù thời gian vào phòng ngắn.
- Dùng áo blouse thay cho tạp dề chì trong phòng chụp X-quang, phòng can thiệp dưới màn tăng sáng, vì blouse không có khả năng chắn tia xạ.

Áo blouse chỉ là một phần của đồng phục, không có khả năng chống thấm, chống hóa chất, chống tia xạ như các phương tiện phòng hộ chuyên dụng. Về mặt cấu trúc vải, đa số blouse được may từ chất liệu thấm hút tốt để tạo sự thoải mái, nhưng chính đặc tính này làm tăng nguy cơ thấm máu, dịch tiết vào lớp vải và lưu giữ mầm bệnh lâu hơn.
Việc nhầm lẫn giữa blouse và PPE có thể dẫn đến:
- Phơi nhiễm nghề nghiệp cho nhân viên y tế (tiếp xúc máu, dịch tiết, hóa chất, tác nhân gây bệnh qua da, niêm mạc).
- Lây nhiễm chéo giữa người bệnh với nhau, giữa người bệnh với nhân viên y tế và từ bệnh viện ra cộng đồng.
- Vi phạm quy định an toàn người bệnh, an toàn lao động, có thể dẫn đến xử lý kỷ luật hoặc chế tài theo quy định của cơ sở y tế và pháp luật.
Để sử dụng áo blouse an toàn và đúng mục đích, cần:
- Được đào tạo định kỳ về phân loại phương tiện phòng hộ cá nhân, hiểu rõ giới hạn bảo vệ của từng loại.
- Tuân thủ nghiêm các quy trình chuẩn (SOP) về mặc, cởi, xử lý và giặt là áo blouse.
- Báo cáo ngay khi có sự cố phơi nhiễm liên quan đến áo blouse (bị dính máu, dịch tiết, hóa chất) để được xử trí kịp thời.
- Không tự ý thay đổi thiết kế áo blouse (may thêm túi, gắn phụ kiện) làm tăng nguy cơ nhiễm bẩn hoặc cản trở việc mang PPE.
Áo blouse cần được nhìn nhận đúng vai trò: đồng phục chuyên môn có chức năng bảo vệ cơ bản, không phải là lớp phòng hộ chính trong các tình huống nguy cơ cao. Việc sử dụng đúng, đủ và đúng lúc các phương tiện phòng hộ cá nhân chuyên dụng mới là yếu tố quyết định trong kiểm soát nhiễm khuẩn và bảo vệ an toàn cho cả người bệnh lẫn nhân viên y tế.
Quy định thay áo blouse khi bẩn, ướt hoặc nhiễm dịch tiết
Quy định thay áo blouse khi bẩn, ướt hoặc nhiễm dịch tiết nhấn mạnh mục tiêu bảo vệ nhân viên y tế, người bệnh và môi trường bệnh viện thông qua kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ. Áo dính máu, dịch, hóa chất phải được thay ngay, xử lý đúng phân loại đồ vải, kết hợp rửa tay và thay áo sạch trước khi tiếp tục chăm sóc. Tần suất thay áo phụ thuộc mức độ nguy cơ từng khu: khám thường, ICU, cấp cứu, khu cách ly… với yêu cầu tăng số áo ở nơi thủ thuật nhiều, nguy cơ cao. Áo rách, ố, ẩm mốc phải báo cáo, sửa hoặc loại bỏ, không dùng trong lâm sàng. Bệnh viện cần quy trình cấp phát, thu hồi, sửa chữa, thanh lý rõ ràng, quản lý theo mã số để bảo đảm luôn đủ áo sạch, đáp ứng chuẩn an toàn và chuyên nghiệp.
Thay blouse ngay sau khi dính máu, dịch cơ thể, hóa chất hoặc thuốc
Khi áo blouse bị dính máu, dịch cơ thể, hóa chất, thuốc, nhân viên y tế phải xử trí theo đúng nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn hóa chất, không chỉ để bảo vệ bản thân mà còn để tránh lây nhiễm chéo cho người bệnh và đồng nghiệp.
- Dừng ngay hoạt động nếu an toàn cho người bệnh: đánh giá nhanh tình huống lâm sàng, bảo đảm người bệnh không bị bỏ dở thủ thuật nguy hiểm, sau đó mới rút tay ra khỏi vùng vô khuẩn và tạm ngưng thao tác.
- Cởi áo blouse theo đúng quy trình: tháo áo từ vùng cổ và vai, cuộn mặt ngoài áo vào trong, hạn chế tối đa động tác giật mạnh hoặc vung áo, nhằm tránh làm bắn thêm máu, dịch hoặc hóa chất ra môi trường xung quanh.
- Bỏ áo vào túi hoặc thùng chứa đồ vải bẩn y tế đúng phân loại:
- Áo dính máu, dịch cơ thể: cho vào túi đồ vải nhiễm khuẩn, có ký hiệu cảnh báo sinh học.
- Áo dính hóa chất, thuốc độc tế bào, thuốc ăn mòn: cho vào túi hoặc thùng chuyên dụng dành cho đồ vải nhiễm hóa chất, không trộn lẫn với đồ vải bẩn thông thường.
- Rửa tay và thay áo blouse sạch trước khi tiếp tục công việc: thực hiện quy trình rửa tay thường quy hoặc rửa tay ngoại khoa (nếu đang trong ca phẫu thuật, thủ thuật vô khuẩn), sau đó mới mặc áo blouse sạch hoặc áo choàng vô khuẩn phù hợp.

Không được tiếp tục sử dụng áo blouse đã nhiễm bẩn trong ca làm việc, kể cả khi vết bẩn nhỏ, khu trú. Các vết máu khô, dịch tiết đã đông hoặc vết bắn li ti vẫn có thể chứa tải lượng vi sinh vật đáng kể, làm tăng nguy cơ phơi nhiễm cho nhân viên y tế và người bệnh.
Đối với hóa chất hoặc thuốc có nguy cơ gây kích ứng da, ăn mòn, độc tế bào (ví dụ: hóa chất tẩy rửa đậm đặc, thuốc hóa trị, dung dịch formol, glutaraldehyde), áo blouse phải được xử lý như đồ vải nhiễm hóa chất, tuân thủ quy trình an toàn hóa chất của bệnh viện. Không giặt chung với đồ vải thông thường để tránh lan truyền tồn dư hóa chất sang các bộ đồ khác, gây kích ứng da, viêm da tiếp xúc hoặc phơi nhiễm mạn tính cho nhân viên giặt là.
Trong trường hợp phơi nhiễm lượng lớn (áo ướt sũng máu, dịch, hóa chất), nhân viên y tế cần:
- Rửa ngay vùng da bị dính hóa chất hoặc dịch tiết theo hướng dẫn chuyên môn (rửa dưới vòi nước chảy, dùng dung dịch trung hòa nếu có chỉ định).
- Báo cáo sự cố phơi nhiễm cho phụ trách khoa, bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc an toàn lao động.
- Ghi nhận sự cố vào sổ hoặc phần mềm báo cáo tai nạn nghề nghiệp để được đánh giá nguy cơ và theo dõi sức khỏe.
Tần suất thay blouse trong ca trực, ca thủ thuật và khu nguy cơ cao
Tần suất thay áo blouse phụ thuộc vào mức độ nguy cơ, tính chất công việc và mức độ tiếp xúc với máu, dịch cơ thể, người bệnh có bệnh truyền nhiễm. Bên cạnh quy định chung của bệnh viện, mỗi khoa phòng có thể xây dựng hướng dẫn chi tiết hơn phù hợp với đặc thù chuyên môn.

- Khu khám bệnh, khoa điều trị thông thường:
- Tối thiểu 1 áo/ngày làm việc, mặc liên tục trong ca nếu áo vẫn sạch, khô, không nhiễm bẩn.
- Thay thêm áo mới ngay khi áo bị bẩn, ướt, ám mùi thuốc sát khuẩn, mùi dịch tiết hoặc sau khi tham gia các thủ thuật có nguy cơ bắn máu, dịch.
- Khuyến khích thay áo khi chuyển đổi giữa các khu vực có nguy cơ khác nhau (ví dụ: từ buồng bệnh cách ly sang phòng khám thông thường) để giảm nguy cơ mang mầm bệnh từ khu vực này sang khu vực khác.
- Khu thủ thuật, ICU, cấp cứu:
- Có thể cần 2–3 áo/ngày, thậm chí nhiều hơn trong các ca trực dài hoặc khi tần suất thủ thuật cao.
- Nhân viên thường phải mặc thêm áo choàng chống thấm, áo chì, hoặc các lớp bảo hộ khác bên ngoài blouse; tuy nhiên, blouse bên trong vẫn phải sạch, không nhiễm bẩn.
- Sau mỗi ca thủ thuật có nguy cơ bắn máu, dịch (đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, dẫn lưu màng phổi, hồi sức cấp cứu, đặt nội khí quản…), nếu áo blouse bị nhiễm bẩn, phải thay ngay, không chờ đến cuối ca.
- Khu cách ly, khu truyền nhiễm:
- Blouse thường ít dùng, thay bằng áo choàng cách ly, áo liền quần hoặc bộ phòng hộ cá nhân (PPE) chuyên dụng.
- Nếu vẫn sử dụng blouse bên trong, phải đảm bảo blouse không tiếp xúc trực tiếp với môi trường cách ly; khi ra khỏi khu cách ly, phải cởi bỏ lớp áo choàng ngoài và xử lý theo đúng quy trình.
- Nếu blouse bị nghi ngờ nhiễm bẩn trong khu cách ly, phải thay ngay khi rời khu, cho vào túi đồ vải nhiễm khuẩn, không mang blouse đó sang khu vực sạch.
Một số bệnh viện quy định rõ trong quy trình đồ vải: mỗi nhân viên được cấp số lượng áo blouse tối thiểu (ví dụ 3–5 áo/người), đảm bảo đủ thay trong tuần, kể cả khi phải trực đêm hoặc làm thêm giờ. Đồng thời, có cơ chế bổ sung áo cho:
- Nhân viên làm việc thường xuyên tại khu nguy cơ cao (ICU, cấp cứu, phòng mổ, khu cách ly).
- Nhân viên tham gia chiến dịch tiêm chủng, khám sàng lọc cộng đồng, các đợt tăng cường hỗ trợ phòng chống dịch.
- Nhân viên mới được điều động tạm thời sang khoa có nguy cơ cao, cần cấp thêm áo phù hợp với tần suất thay nhiều hơn.
Việc tuân thủ tần suất thay áo blouse không chỉ là yêu cầu về hình ảnh chuyên nghiệp mà còn là một phần của chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, góp phần giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện và bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế.
Xử lý áo blouse rách, mất cúc, ẩm mốc hoặc không còn bảo đảm vệ sinh
Áo blouse bị rách, sờn, mất cúc, ố vàng, ẩm mốc không được tiếp tục sử dụng trong môi trường lâm sàng, vì không đáp ứng yêu cầu về an toàn, vệ sinh và hình ảnh chuyên nghiệp. Những hư hỏng nhỏ nếu không được xử lý kịp thời có thể làm áo nhanh xuống cấp, khó làm sạch, dễ tích tụ vi sinh vật.

- Báo cáo điều dưỡng trưởng hoặc phụ trách khoa: ghi nhận tình trạng áo, lý do đề nghị đổi hoặc sửa, tránh tự ý bỏ áo hoặc tự sửa không đúng quy cách.
- Bàn giao áo cho bộ phận đồ vải:
- Áo rách nhẹ, sút chỉ, mất 1–2 cúc: có thể được chuyển sang bộ phận may vá để sửa chữa, thay cúc, khâu lại đường chỉ.
- Áo rách lớn, vải mỏng, sờn nhiều, ố vàng không tẩy được: thường được đề xuất loại bỏ khỏi vòng quay sử dụng.
- Nhận áo mới hoặc áo thay thế theo quy trình cấp phát: nhân viên ký nhận, ghi rõ kích cỡ, mã số áo (nếu có), đảm bảo việc quản lý tài sản đồ vải minh bạch.
Áo blouse ẩm mốc có thể là nguồn phát tán bào tử nấm mốc, gây dị ứng, kích ứng da, viêm da, viêm đường hô hấp, đặc biệt nguy hiểm với người bệnh suy giảm miễn dịch, người cao tuổi, bệnh nhân ung thư, ghép tạng. Do đó, áo phải được:
- Phơi khô hoàn toàn sau khi giặt, tránh phơi ở nơi ẩm, thiếu thông thoáng.
- Ủi kỹ ở nhiệt độ phù hợp để hỗ trợ tiêu diệt một phần vi sinh vật còn sót lại và làm khô hoàn toàn các vùng vải dày.
- Bảo quản nơi khô ráo, sạch, có thông gió tốt, tránh để trong tủ ẩm, sát tường ẩm mốc.
- Không để lâu ngày trong túi nylon kín, vì môi trường kín, ẩm là điều kiện thuận lợi cho nấm mốc phát triển.
Khi phát hiện áo có mùi ẩm mốc, xuất hiện đốm mốc, cần tách riêng áo đó, không treo chung với áo sạch khác, báo bộ phận đồ vải để xử lý. Nếu sau khi giặt lại bằng quy trình tăng cường (nhiệt độ cao, hóa chất tẩy rửa phù hợp) mà vẫn còn mùi hoặc vết mốc, áo nên được loại bỏ.
Quy trình báo cấp phát hoặc đổi áo blouse tại bệnh viện
Mỗi bệnh viện có quy trình cấp phát và đổi áo blouse riêng, thường được quy định trong quy chế quản lý tài sản, quy trình đồ vải và quy định kiểm soát nhiễm khuẩn. Quy trình này giúp đảm bảo nhân viên luôn có đủ áo sạch, đồng thời kiểm soát chi phí và hạn chế thất thoát.

- Nhân viên đăng ký kích cỡ, số lượng áo được cấp ban đầu với khoa phòng hoặc bộ phận nhân sự khi mới nhận việc; thông tin này được lưu trong hồ sơ quản lý.
- Khoa phòng lập danh sách tổng hợp theo từng bộ phận, gửi bộ phận đồ vải hoặc phòng Hành chính quản trị để sắp xếp may, mua sắm và cấp phát.
- Nhân viên nhận áo, thử kích cỡ, ký nhận, ghi rõ mã số áo nếu có (mã số có thể gắn với khoa, bộ phận hoặc cá nhân), giúp truy vết khi cần.
- Khi áo hỏng, bẩn không thể giặt sạch, hoặc không còn đảm bảo thẩm mỹ, nhân viên nộp lại áo cũ cho khoa hoặc trực tiếp cho bộ phận đồ vải, kèm theo phiếu đề nghị đổi áo mới.
- Bộ phận đồ vải kiểm tra tình trạng áo, phân loại:
- Áo còn khả năng sửa chữa: chuyển sang bộ phận may vá, sau đó đưa trở lại vòng quay sử dụng nếu đạt yêu cầu.
- Áo không còn sử dụng được: đưa vào danh sách loại bỏ, thanh lý theo quy định, có thể tận dụng làm giẻ lau kỹ thuật nếu phù hợp.
Việc quản lý áo blouse theo mã số, theo khoa phòng giúp bệnh viện kiểm soát tốt hơn chi phí đồ vải, tránh thất thoát, thất lạc, đồng thời đảm bảo mỗi nhân viên luôn có đủ áo sạch để sử dụng. Một hệ thống quản lý tốt thường bao gồm:
- Danh mục số lượng áo cấp phát chuẩn cho từng chức danh (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý…).
- Quy định rõ tần suất cấp mới định kỳ (ví dụ: 1–2 năm/lần) và các trường hợp được cấp bổ sung (rách, ố, thay đổi vị trí công tác, thay đổi kích cỡ).
- Cơ chế phối hợp giữa khoa lâm sàng, bộ phận đồ vải, phòng Hành chính quản trị và phòng Kiểm soát nhiễm khuẩn để bảo đảm áo blouse luôn đạt yêu cầu về vệ sinh, an toàn và hình ảnh chuyên nghiệp.
Quy định cởi, mang và cất áo blouse để hạn chế lây nhiễm chéo
Quy định cởi, mang và cất áo blouse nhằm xem áo như một phương tiện phòng hộ cá nhân có nguy cơ mang mầm bệnh, từ đó xây dựng chuỗi kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ. Nhân viên y tế phải mặc – cởi áo đúng thứ tự tại khu vực làm việc, hạn chế tối đa tiếp xúc với mặt ngoài áo và luôn kết hợp vệ sinh tay đúng kỹ thuật. Áo blouse chỉ được sử dụng trong phạm vi khu chuyên môn, không mặc ra ngoài bệnh viện, căng tin hoặc khu vực công cộng để tránh mang vi sinh vật đa kháng ra cộng đồng hay đưa mầm bệnh từ ngoài vào. Hệ thống tủ, móc treo, túi chứa đồ vải bẩn được tổ chức tách biệt sạch – bẩn, cùng nguyên tắc không dùng chung áo giữa các cá nhân, khoa phòng, giúp giảm nguy cơ lây nhiễm chéo và hỗ trợ truy vết khi có phơi nhiễm.

Mặc và cởi áo blouse đúng thứ tự tại khu vực làm việc
Quy trình mặc và cởi áo blouse phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn, coi áo blouse là một dạng phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE) có nguy cơ mang mầm bệnh. Việc tuân thủ đúng thứ tự giúp hạn chế tối đa việc phát tán vi sinh vật từ bề mặt áo ra môi trường xung quanh hoặc sang nhân viên y tế, người bệnh, đồ dùng.

- Mặc áo blouse tại khu vực sạch, trước khi vào buồng bệnh. Khu vực sạch có thể là phòng thay đồ, phòng hành chính khoa, nơi không có người bệnh và không có hoạt động thủ thuật. Trước khi mặc, nhân viên y tế cần:
- Kiểm tra áo còn nguyên vẹn, không rách, không dính máu, dịch, chất tiết.
- Đảm bảo áo đã được giặt, sấy, là theo đúng quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện.
- Rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi cầm vào áo sạch để tránh làm bẩn áo ngay từ đầu.
- Cài đủ cúc, chỉnh tay áo gọn gàng, không để vạt áo chạm sàn. Tay áo nên dài đến cổ tay nhưng không quá rộng, tránh quệt vào bề mặt bẩn, dụng cụ hoặc người bệnh. Vạt áo chạm sàn có thể kéo theo vi khuẩn, bào tử nấm từ nền nhà lên áo, làm tăng nguy cơ lây nhiễm chéo. Với một số vị trí thủ thuật, có thể yêu cầu xắn tay áo trên khuỷu tay hoặc sử dụng thêm áo choàng vô khuẩn bên ngoài.
- Khi cởi áo, tránh chạm tay vào mặt ngoài áo, cầm vào phần cổ, vai, lộn mặt trong ra ngoài. Mặt ngoài áo được xem là vùng “bẩn”, có thể chứa vi khuẩn, virus, bào tử nấm, máu, dịch tiết. Kỹ thuật cởi áo nên thực hiện theo nguyên tắc:
- Mở hết cúc áo, hạn chế kéo giật mạnh gây phát tán bụi, giọt bắn khô.
- Dùng tay nắm vào phần cổ áo, vai áo phía mặt trong, từ từ kéo áo ra khỏi người.
- Trong quá trình cởi, luôn hướng mặt ngoài áo vào trong, lộn dần để mặt trong ra ngoài, giảm tiếp xúc với môi trường.
- Không vung, không lắc áo, không đặt áo lên bề mặt sạch như bàn làm việc, máy tính, hồ sơ.
- Đặt áo vào tủ, móc treo hoặc túi chứa đồ vải bẩn đúng quy định. Áo sạch phải được treo hoặc gấp gọn trong tủ kín, tránh ẩm, tránh bụi. Áo đã sử dụng, đặc biệt áo nghi ngờ nhiễm bẩn (tiếp xúc người bệnh cách ly, thủ thuật xâm lấn, dính máu/dịch) phải được bỏ ngay vào túi hoặc thùng đồ vải bẩn có ký hiệu, không để lẫn với áo sạch.
Sau khi cởi áo blouse bẩn, nhân viên y tế phải rửa tay hoặc sát khuẩn tay ngay theo đúng kỹ thuật (ít nhất 20–30 giây với dung dịch chứa cồn hoặc xà phòng và nước), trước khi chạm vào bề mặt sạch, hồ sơ, thiết bị, điện thoại, máy tính. Đây là bước then chốt trong chuỗi phòng ngừa lây nhiễm chéo, vì tay là phương tiện truyền mầm bệnh phổ biến nhất.
Trong các tình huống nguy cơ cao (khoa hồi sức, phòng mổ, khu cách ly bệnh truyền nhiễm), áo blouse có thể được sử dụng kết hợp với áo choàng chống thấm, tạp dề nhựa, hoặc áo choàng dùng một lần. Khi đó, thứ tự mặc – cởi phải tuân theo quy trình PPE của từng bệnh viện, nhưng nguyên tắc chung vẫn là hạn chế tối đa tiếp xúc với mặt ngoài áo và thực hiện vệ sinh tay ở nhiều thời điểm.
Không mặc áo blouse ra ngoài bệnh viện, căng tin hoặc khu vực công cộng
Nhiều quy định nội bộ nhấn mạnh: không được mặc áo blouse ra khỏi khuôn viên chuyên môn vì áo blouse được xem là “vật mang mầm bệnh tiềm tàng”. Việc di chuyển áo blouse từ khu vực chăm sóc người bệnh ra cộng đồng có thể biến áo thành cầu nối truyền vi sinh vật đa kháng, vi khuẩn bệnh viện (HAI pathogens) ra ngoài, hoặc mang mầm bệnh từ cộng đồng vào lại bệnh viện.

- Mặc áo blouse ra đường, về nhà, đến quán ăn bên ngoài bệnh viện. Hành vi này làm tăng nguy cơ:
- Phát tán vi khuẩn bệnh viện lên ghế ngồi, tay vịn, phương tiện giao thông công cộng.
- Đưa mầm bệnh đến người thân, trẻ nhỏ, người suy giảm miễn dịch tại gia đình.
- Làm nhiễm bẩn môi trường quán ăn, khu chế biến thực phẩm.
- Mặc áo blouse vào căng tin bệnh viện (nếu quy định), khu vực công cộng đông người. Một số bệnh viện quy định tuyệt đối không mặc blouse vào căng tin; số khác cho phép nhưng có khuyến cáo:
- Cởi áo nếu áo đã tiếp xúc nhiều với người bệnh, thủ thuật, khu cách ly.
- Không ngồi sát người nhà bệnh nhân, không để vạt áo chạm bàn ăn, ghế, khay thức ăn.
- Hạn chế di chuyển qua lại giữa khu điều trị và căng tin khi vẫn mặc cùng một áo blouse.
- Mặc áo blouse khi tham gia hoạt động không liên quan chuyên môn (họp hành ngoài bệnh viện, sự kiện xã hội, hội nghị không tổ chức trong khu chuyên môn). Việc này không chỉ làm tăng nguy cơ lây nhiễm mà còn gây hiểu nhầm về tính chuyên nghiệp, làm mờ ranh giới giữa môi trường chăm sóc sức khỏe và cộng đồng.
Lý do cốt lõi là áo blouse có thể mang theo vi khuẩn, virus, bào tử nấm từ bệnh viện ra cộng đồng, hoặc ngược lại mang mầm bệnh từ cộng đồng vào bệnh viện. Nhiều nghiên cứu cho thấy bề mặt vải áo blouse có thể lưu giữ vi khuẩn Gram dương, Gram âm, kể cả chủng đa kháng, trong nhiều giờ đến nhiều ngày nếu không được giặt đúng quy trình. Do đó, việc giới hạn phạm vi sử dụng áo blouse trong khu vực chuyên môn là một biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn mang tính hệ thống.
Khu vực treo, tủ đựng và túi chứa blouse đã sử dụng
Bệnh viện thường bố trí khu vực treo áo blouse sạch và khu vực chứa áo blouse bẩn riêng biệt, có biển báo rõ ràng, nhằm đảm bảo luồng di chuyển “sạch – bẩn” không giao cắt. Việc tổ chức không gian hợp lý giúp giảm nguy cơ nhiễm chéo qua đồ vải và hỗ trợ công tác giặt là trung tâm.

- Tủ đựng áo sạch tại khoa, có cửa, tránh bụi, ẩm. Tủ nên:
- Đặt ở khu hành chính hoặc phòng thay đồ, không đặt trong buồng bệnh.
- Có cửa đóng kín, dễ vệ sinh, chống côn trùng, gặm nhấm.
- Phân ngăn cho từng cá nhân hoặc từng nhóm, có nhãn tên để tránh nhầm lẫn.
- Được vệ sinh định kỳ, kiểm soát ẩm mốc, tránh để áo sạch tiếp xúc trực tiếp với tường ẩm, sàn nhà.
- Móc treo áo tại phòng hành chính khoa, không treo áo bẩn trong buồng bệnh. Móc treo dùng cho áo đang sử dụng tạm thời (trong ca trực, giờ nghỉ ngắn) nhưng vẫn phải:
- Tách biệt giữa móc treo áo sạch và móc treo áo đã sử dụng nhiều lần trong ngày.
- Không treo áo ngay cạnh khu vực rửa tay, bồn rửa dụng cụ để tránh bắn nước, hóa chất.
- Không treo áo bẩn trên thành giường, lan can, cửa sổ, ghế trong buồng bệnh vì đây là các bề mặt có nguy cơ cao chứa mầm bệnh.
- Túi hoặc thùng chứa đồ vải bẩn, có lót túi nylon hoặc túi vải chuyên dụng, đặt tại khu vực quy định, không để tràn ra hành lang. Một số điểm cần lưu ý:
- Túi đựng phải có màu sắc hoặc ký hiệu riêng cho đồ vải nhiễm khuẩn, nghi nhiễm khuẩn, hoặc đồ vải thông thường.
- Không nhồi nhét quá đầy, không ấn nén mạnh làm phát tán bụi, bào tử.
- Đóng kín túi trước khi vận chuyển đến khoa kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc bộ phận giặt là.
- Không để túi đồ vải bẩn tiếp xúc trực tiếp với sàn nhà ẩm ướt, nên đặt trên giá hoặc trong thùng có nắp.
Nhân viên y tế không được treo áo blouse bẩn trên ghế, thành giường, lan can, không để áo bẩn chung với áo sạch. Việc phân tách rõ ràng giúp giảm nguy cơ lây nhiễm chéo qua đồ vải, đồng thời hỗ trợ truy xuất nguồn gốc khi cần điều tra ổ dịch hoặc phơi nhiễm. Trong các khoa nguy cơ cao (hồi sức, truyền nhiễm, huyết học), quy trình thu gom và xử lý áo blouse bẩn thường được chuẩn hóa chi tiết hơn, có thể kèm theo bước khử khuẩn sơ bộ trước khi đưa đi giặt.
Không dùng chung áo blouse giữa nhân viên hoặc giữa các khoa phòng
Áo blouse được cấp phát theo cá nhân, gắn với từng nhân viên y tế, nhằm đảm bảo kiểm soát nhiễm khuẩn và truy vết khi cần. Việc dùng chung áo blouse làm mất dấu vết kiểm soát, tăng nguy cơ lây nhiễm chéo giữa khoa phòng, đồng thời gây khó khăn cho công tác điều tra dịch tễ khi xảy ra phơi nhiễm.

- Không mượn áo blouse của đồng nghiệp khi quên áo, mà phải mượn áo dự phòng của khoa hoặc bệnh viện. Áo dự phòng:
- Được lưu trữ tại tủ áo sạch của khoa hoặc phòng điều dưỡng trưởng.
- Được giặt, khử khuẩn định kỳ như áo cá nhân.
- Có sổ theo dõi hoặc hình thức quản lý để đảm bảo sau khi sử dụng phải đưa đi giặt trước khi cấp phát lại.
- Không chuyển áo blouse từ khoa này sang khoa khác khi điều động nhân sự, trừ khi đã giặt khử khuẩn và cấp phát lại. Mỗi khoa có đặc thù mầm bệnh khác nhau (ví dụ khoa Lao, khoa Truyền nhiễm, khoa Hồi sức), việc mang áo từ khoa này sang khoa khác có thể “chuyển giao” hệ vi sinh vật không mong muốn, làm phức tạp mô hình nhiễm khuẩn bệnh viện.
- Không để người nhà, người bệnh, sinh viên mượn áo blouse của nhân viên để “đi nhờ” vào khu vực hạn chế. Hành vi này:
- Vi phạm quy định an ninh bệnh viện và kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Làm tăng nguy cơ phơi nhiễm cho người không được đào tạo về an toàn sinh học.
- Gây khó khăn cho việc xác định ai đã tiếp xúc với khu vực nguy cơ cao nếu xảy ra sự cố.
Trong một số chương trình quản lý chất lượng, áo blouse có thể được gắn mã số, mã vạch hoặc ký hiệu cá nhân để dễ dàng nhận diện, tránh nhầm lẫn và hỗ trợ truy vết. Việc tuân thủ nguyên tắc “một áo – một người – một khoa” là một phần của chiến lược phòng ngừa chuẩn (standard precautions) và phòng ngừa theo đường lây truyền (transmission-based precautions) trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.
Quy định giặt, khử khuẩn và bảo quản áo blouse bệnh viện
Quy định giặt, khử khuẩn và bảo quản áo blouse bệnh viện tập trung vào kiểm soát nhiễm khuẩn đồ vải y tế một cách hệ thống. Trước hết, áo được phân loại rõ thành blouse sạch, bẩn thông thường và nghi nhiễm để lựa chọn chế độ giặt, hóa chất và phương thức vận chuyển phù hợp, tránh phát tán mầm bệnh. Các cơ sở ưu tiên giặt tập trung với quy trình một chiều, dùng nhiệt độ cao và hóa chất đạt chuẩn, tách biệt khu bẩn – khu sạch. Sau giặt, áo phải được làm khô, ủi nóng và bảo quản trong môi trường sạch, kín, không để tái nhiễm. Quy định cũng nhấn mạnh không mang blouse nhiễm bẩn về nhà, hoặc nếu buộc phải giặt tại nhà thì phải giặt riêng, khử khuẩn đúng quy trình.
Phân loại blouse sạch, blouse bẩn và blouse nghi nhiễm trước khi giặt
Phân loại áo blouse là bước đầu tiên và quan trọng trong quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn đồ vải y tế. Việc phân loại đúng giúp lựa chọn chế độ giặt, nồng độ hóa chất và phương thức vận chuyển phù hợp, hạn chế tối đa nguy cơ phát tán mầm bệnh trong quá trình thu gom và xử lý.

Áo blouse cần được phân loại ngay tại khoa/phòng, trước khi đưa ra khu giặt:
- Blouse sạch: là áo:
- Chưa sử dụng, mới được cấp phát từ kho đồ vải hoặc từ đơn vị giặt là.
- Đã được giặt, sấy, ủi và bảo quản đúng quy định, chưa tiếp xúc với môi trường lâm sàng.
- Được lưu trữ trong tủ kín, túi kín, không bị rơi xuống sàn, không dính bụi bẩn, không có mùi lạ.
Blouse sạch phải được bảo quản tách biệt hoàn toàn với mọi loại đồ vải bẩn, kể cả trong cùng một khoa.
- Blouse bẩn thông thường: là áo:
- Đã sử dụng trong khu khám bệnh, khu điều trị thông thường, khu hành chính trong bệnh viện.
- Không dính máu, dịch tiết, chất bài tiết nhìn thấy được bằng mắt thường.
- Không sử dụng trong khu cách ly, khu hồi sức tích cực, khu thủ thuật xâm lấn.
Nhóm này vẫn được xem là có nguy cơ mang vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, virus, nấm) nhưng mức độ thấp hơn so với blouse nghi nhiễm, do đó có thể áp dụng chế độ giặt chuẩn thông thường với nhiệt độ và hóa chất phù hợp.
- Blouse nghi nhiễm: là áo có nguy cơ cao mang mầm bệnh:
- Dính máu, dịch tiết (dịch hô hấp, dịch ổ bụng, dịch dẫn lưu), chất bài tiết (phân, nước tiểu, chất nôn).
- Đã sử dụng trong:
- Khu cách ly bệnh truyền nhiễm (lao, COVID-19, cúm, sởi, sốt xuất huyết nặng...).
- Khu hồi sức tích cực, khu cấp cứu, phòng mổ, phòng thủ thuật xâm lấn.
- Khu điều trị bệnh nhân có mầm bệnh đa kháng, siêu kháng (MRSA, VRE, CRE...).
- Có mùi hôi rõ rệt, ẩm ướt, nghi ngờ bị nhiễm bẩn nặng dù không thấy vết bẩn rõ.
Blouse nghi nhiễm phải được xử lý như đồ vải nguy cơ cao, áp dụng quy trình khử khuẩn nghiêm ngặt hơn, có thể cần tiền xử lý (pre-treatment) trước khi đưa vào dây chuyền giặt chính.
Để tránh nhầm lẫn, mỗi nhóm blouse nên được chứa trong túi hoặc thùng chuyên dụng riêng, có:
- Màu sắc phân biệt (ví dụ: trắng cho sạch, xanh cho bẩn thông thường, đỏ hoặc vàng cho nghi nhiễm).
- Nhãn hoặc ký hiệu rõ ràng: “Sạch”, “Bẩn”, “Nghi nhiễm/Nguy cơ cao”.
- Chất liệu túi đủ dày, chống thấm đối với nhóm nghi nhiễm để tránh rò rỉ dịch.
Đối với blouse nghi nhiễm, trước khi chuyển đến khu giặt tập trung, thường phải:
- Loại bỏ sơ bộ chất bẩn thô (nếu an toàn và được phép), tránh vung vãi.
- Ngâm trong dung dịch khử khuẩn có nồng độ phù hợp (ví dụ: dung dịch chứa chlorine hoạt tính theo khuyến cáo kiểm soát nhiễm khuẩn) trong thời gian tối thiểu theo quy định.
- Đóng túi kín, ghi rõ nguồn gốc khoa/phòng, thời điểm thu gom, loại nguy cơ (máu, dịch tiết, bệnh truyền nhiễm cụ thể nếu có).
Nhân viên thu gom đồ vải phải mang đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân (găng tay, khẩu trang, áo choàng, nếu cần thêm kính chắn giọt bắn) và tuân thủ nguyên tắc không ô nhiễm chéo giữa các nhóm đồ vải.
Giặt tập trung tại bệnh viện hoặc giặt theo quy trình được phê duyệt
Hầu hết các cơ sở y tế hiện đại áp dụng mô hình giặt tập trung cho áo blouse và toàn bộ đồ vải y tế. Mục tiêu là đảm bảo kiểm soát nhiễm khuẩn thống nhất, giảm sai sót do giặt thủ công, đồng thời tối ưu chi phí vận hành.

Trong hệ thống giặt tập trung, quy trình thường bao gồm các bước chính:
- Tiếp nhận và phân luồng đồ vải:
- Đồ vải bẩn được tiếp nhận tại khu “bẩn”, tách biệt vật lý với khu “sạch”.
- Blouse nghi nhiễm được nhận diện bằng màu túi, nhãn cảnh báo, được ưu tiên xử lý theo dây chuyền nguy cơ cao.
- Lựa chọn chu trình giặt:
- Nhiệt độ giặt thường từ 60–90°C tùy mức độ nhiễm bẩn và loại vải.
- Thời gian duy trì nhiệt độ cao đủ lâu để tiêu diệt vi sinh vật (theo khuyến cáo của kiểm soát nhiễm khuẩn và nhà sản xuất hóa chất).
- Kết hợp cơ học (đảo, xoáy), hóa học (chất giặt, chất tẩy, chất khử khuẩn) và thời gian tiếp xúc để đạt hiệu quả tối ưu.
- Sử dụng hóa chất giặt và khử khuẩn đạt chuẩn:
- Chất giặt có khả năng tẩy sạch vết bẩn hữu cơ nhưng không làm hư hại sợi vải, không để lại tồn dư gây kích ứng da.
- Chất khử khuẩn (thường là hợp chất chlorine, peracetic acid, hydrogen peroxide ổn định…) được sử dụng với nồng độ và thời gian tiếp xúc theo chuẩn.
- pH nước giặt, nước xả được kiểm soát để không gây mục vải, không làm giảm hiệu lực khử khuẩn.
- Quy trình một chiều, tách biệt đồ vải bẩn và sạch:
- Khu vực bẩn và khu vực sạch có luồng di chuyển riêng, không giao cắt.
- Máy giặt công nghiệp có thể là loại cửa đôi (một cửa phía khu bẩn, một cửa phía khu sạch) để đảm bảo nguyên tắc một chiều.
- Nhân viên khu bẩn và khu sạch có đồng phục, phương tiện bảo hộ riêng, hạn chế di chuyển chéo.
Đối với các bệnh viện nhỏ, phòng khám hoặc cơ sở chưa có hệ thống giặt tập trung, có thể cho phép nhân viên tự giặt áo blouse tại nhà nhưng phải tuân thủ quy trình giặt được phê duyệt bằng văn bản bởi bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn:
- Ngâm khử khuẩn trước khi giặt, đặc biệt với áo có nguy cơ cao.
- Giặt riêng áo blouse, không giặt chung với quần áo gia đình, nhất là đồ của trẻ em, người già, phụ nữ mang thai, người suy giảm miễn dịch.
- Sử dụng nước nóng (nếu có thể), chất giặt có khả năng tẩy sạch vết bẩn y tế.
- Phơi nơi có nắng, thông thoáng, tránh phơi trong không gian kín ẩm dễ phát sinh nấm mốc.
- Ủi nóng sau khi khô để tăng hiệu quả diệt khuẩn.
Tuy nhiên, xu hướng hiện nay là hạn chế tối đa việc mang áo blouse bẩn về nhà. Nhiều cơ sở y tế chuyển sang hợp đồng với đơn vị giặt là y tế được kiểm định, hoặc đầu tư hệ thống giặt tập trung nội viện, nhằm giảm nguy cơ mang mầm bệnh từ bệnh viện ra cộng đồng.
Yêu cầu làm khô, ủi và bảo quản blouse sau giặt
Sau khi hoàn tất chu trình giặt, áo blouse phải được xử lý tiếp theo để đảm bảo đạt chuẩn “sạch an toàn” trước khi cấp phát cho nhân viên y tế.

Làm khô là bước quan trọng, không chỉ để tránh ẩm mốc mà còn hỗ trợ tiêu diệt thêm vi sinh vật:
- Ưu tiên sử dụng máy sấy nhiệt công nghiệp, có thể kiểm soát nhiệt độ và thời gian sấy.
- Nếu phơi ngoài trời:
- Chọn khu vực phơi riêng cho đồ vải sạch, tránh gần khu rác, khu xử lý nước thải, nơi có nhiều bụi.
- Phơi ở nơi có ánh nắng trực tiếp, thông gió tốt, tránh phơi trong nhà ẩm thấp.
- Không để áo chạm đất, không phơi chung với đồ vải bẩn.
Ủi nóng giúp làm phẳng áo, tạo hình chuyên nghiệp và góp phần tiêu diệt vi khuẩn còn sót lại:
- Sử dụng bàn ủi có nhiệt độ phù hợp với chất liệu vải (thường là cotton hoặc poly-cotton).
- Ủi cả mặt trong và mặt ngoài tại các vùng thường tiếp xúc nhiều (tay áo, cổ áo, thân trước).
- Đảm bảo bề mặt bàn ủi, khăn lót, bàn ủi được vệ sinh định kỳ để không làm bẩn lại áo.
Bảo quản sau giặt phải tuân thủ nguyên tắc không tái nhiễm bẩn:
- Gấp hoặc treo áo trong tủ kín, có cửa, hạn chế bụi, côn trùng, gặm nhấm.
- Không để áo sạch tiếp xúc trực tiếp với sàn nhà, mặt bàn bẩn, bề mặt chưa được khử khuẩn.
- Không để áo sạch chung với áo bẩn trong cùng tủ, cùng túi hoặc cùng xe đẩy.
- Có thể sử dụng túi nilon sạch hoặc túi vải sạch bọc ngoài từng áo hoặc từng lô áo để bảo vệ trong quá trình vận chuyển đến các khoa.
Bệnh viện thường xây dựng lịch cấp phát áo sạch theo ngày hoặc theo tuần, tùy theo số lượng nhân viên và năng lực giặt là:
- Nhân viên phải đến nhận áo đúng lịch, ký nhận đầy đủ để đảm bảo truy vết khi cần.
- Mỗi nhân viên có thể được cấp số lượng áo nhất định (ví dụ: 2–3 áo/người) để luân phiên sử dụng và giặt.
- Khoa/phòng có trách nhiệm thu hồi áo bẩn đúng thời gian, không để tồn đọng áo bẩn quá lâu trong khu vực lâm sàng.
Không mang blouse nhiễm bẩn về nhà khi chưa xử lý đúng quy trình
Trong quy định kiểm soát nhiễm khuẩn, việc mang áo blouse bẩn về nhà thường bị cấm hoặc hạn chế tối đa. Áo blouse sau ca làm việc có thể mang theo vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng từ môi trường bệnh viện, đặc biệt nếu làm việc tại các khoa có nguy cơ cao.

Khi cơ sở y tế chưa có dịch vụ giặt tập trung và buộc phải cho phép nhân viên mang áo về nhà giặt, cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:
- Đựng áo trong túi riêng, kín:
- Sử dụng túi chống thấm nếu áo dính dịch tiết, máu.
- Không để lẫn với túi đựng đồ cá nhân, thức ăn, tài liệu.
- Đóng kín túi ngay sau khi cởi áo, hạn chế tối đa thao tác lắc, giũ gây phát tán bụi và giọt bắn.
- Giặt ngay khi về nhà:
- Không treo áo bẩn trong phòng ngủ, phòng khách, khu vực sinh hoạt chung.
- Không để áo bẩn qua đêm trong không gian kín, ẩm, vì có thể tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển.
- Giặt riêng:
- Không giặt chung với quần áo trẻ em, người già, người bệnh hoặc người suy giảm miễn dịch.
- Nên giặt riêng hoàn toàn với quần áo gia đình, sử dụng chu trình giặt mạnh hơn, có thể kết hợp nước nóng nếu máy giặt cho phép.
- Sử dụng chất giặt có khả năng tẩy sạch vết bẩn hữu cơ, có thể kết hợp thêm chất khử khuẩn theo hướng dẫn an toàn.
Trong bối cảnh dịch bệnh truyền nhiễm (như COVID-19, cúm mùa nặng, các bệnh đường hô hấp cấp tính), nhiều bệnh viện đã siết chặt quy định, yêu cầu toàn bộ áo blouse phải được giặt tại bệnh viện hoặc tại đơn vị giặt là y tế được kiểm định, không cho phép giặt tại nhà. Mục tiêu là giảm tối đa nguy cơ phát tán mầm bệnh ra cộng đồng, bảo vệ gia đình nhân viên y tế và môi trường xung quanh.
Việc tuân thủ nghiêm các quy định giặt, khử khuẩn và bảo quản áo blouse không chỉ là yêu cầu chuyên môn mà còn là trách nhiệm nghề nghiệp của mỗi nhân viên y tế trong công tác phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
Trách nhiệm kiểm tra và xử lý vi phạm quy định mặc áo blouse
Nhân viên y tế phải chủ động giữ áo blouse sạch, đúng chuẩn, không tự ý thay đổi kiểu dáng, màu sắc, không mặc ra ngoài khu vực cho phép và báo cáo khi áo hỏng, thiếu hoặc quy trình đồ vải có bất cập. Việc vi phạm có thể bị xem là vi phạm nội bộ, ảnh hưởng thi đua, thậm chí bị kỷ luật nếu gây hậu quả về kiểm soát nhiễm khuẩn. Điều dưỡng trưởng, trưởng khoa tổ chức phổ biến quy định, kiểm tra, nhắc nhở, phối hợp đảm bảo đủ áo sạch; bộ phận KSNK xây dựng quy trình, đào tạo và giám sát tuân thủ. Bệnh viện áp dụng cơ chế nhắc nhở, lập biên bản, xử lý kỷ luật theo mức độ; đồng thời ban hành quy định, quy trình và tổ chức đào tạo định kỳ, lưu trữ hồ sơ để phục vụ quản lý chất lượng và cải tiến liên tục.
Trách nhiệm của nhân viên y tế trong việc giữ blouse sạch và đúng chuẩn
Mỗi nhân viên y tế có trách nhiệm cá nhân trong việc tuân thủ quy định mặc áo blouse, không chỉ ở mức độ hình thức mà còn ở góc độ kiểm soát nhiễm khuẩn, an toàn người bệnh và hình ảnh chuyên nghiệp của cơ sở khám chữa bệnh.

- Chủ động giữ áo sạch, thay áo khi bẩn, không đợi nhắc nhở:
- Thường xuyên tự kiểm tra tình trạng áo trước, trong và sau ca làm việc (vết bẩn, vết máu, dịch tiết, mùi hôi, nhàu nát).
- Thay ngay áo blouse khi có nguy cơ nhiễm bẩn cao (sau khi xử trí thủ thuật, tiếp xúc dịch cơ thể, tham gia cấp cứu, phẫu thuật… nếu áo bị bắn bẩn).
- Không sử dụng lại áo đã nhiễm bẩn cho ca làm việc tiếp theo; phân loại và bỏ áo bẩn đúng quy trình đồ vải nhiễm khuẩn.
- Không tự ý giặt áo blouse nhiễm bẩn nặng tại nhà nếu quy định bệnh viện yêu cầu xử lý tập trung tại khoa đồ vải/KSNK.
- Không tự ý thay đổi kiểu dáng, màu sắc, thêu thêm hình ảnh không phù hợp:
- Tuân thủ mẫu áo blouse thống nhất do bệnh viện ban hành (chiều dài, kiểu cổ, tay áo, chất liệu, màu sắc).
- Chỉ được gắn logo, phù hiệu, bảng tên, chức danh theo mẫu chuẩn; không thêu, in thêm hình ảnh, khẩu hiệu, biểu tượng không được phê duyệt.
- Không bóp eo, cắt ngắn, xẻ tà quá mức, làm áo ôm sát cơ thể gây mất tính chuyên nghiệp hoặc hạn chế vận động khi cấp cứu.
- Không sử dụng phụ kiện gắn trên áo (huy hiệu, trang sức, móc khóa…) có nguy cơ rơi, gây nhiễm khuẩn hoặc gây tổn thương người bệnh.
- Tuân thủ quy định không mặc blouse ra ngoài khu vực cho phép:
- Không mặc áo blouse ra ngoài khuôn viên bệnh viện, ra đường, quán ăn, khu vực công cộng, bãi giữ xe… trừ khi có quy định đặc thù được phê duyệt.
- Không di chuyển giữa các khu vực có mức độ nguy cơ nhiễm khuẩn khác nhau (ví dụ: từ khu cách ly sang khu khám ngoại trú) mà không thay đổi hoặc bổ sung phương tiện phòng hộ theo quy định.
- Tháo áo blouse và treo đúng nơi quy định khi ra khỏi khu vực chuyên môn, tránh mang mầm bệnh ra môi trường bên ngoài.
- Báo cáo khi áo hỏng, thiếu áo, hoặc khi phát hiện bất cập trong quy trình đồ vải:
- Báo cáo điều dưỡng trưởng hoặc phụ trách khoa khi áo bị rách, sờn, phai màu, hỏng cúc, không còn đảm bảo thẩm mỹ và an toàn.
- Thông tin kịp thời cho bộ phận đồ vải khi số lượng áo sạch không đủ, thời gian cấp phát chậm, hoặc chất lượng giặt không đạt (còn bẩn, còn mùi, còn hóa chất).
- Góp ý, phản ánh các bất cập trong quy trình thu gom, phân loại, vận chuyển, giặt, là, lưu trữ áo blouse có nguy cơ gây nhiễm khuẩn chéo.
Việc không tuân thủ quy định mặc áo blouse có thể bị xem là vi phạm quy định nội bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá thi đua, khen thưởng, xếp loại viên chức, hợp đồng lao động. Trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn (lây nhiễm chéo, bùng phát ổ dịch trong bệnh viện…), cá nhân vi phạm có thể bị xem xét xử lý kỷ luật theo các mức độ từ khiển trách, cảnh cáo đến chấm dứt hợp đồng, tùy theo quy chế của đơn vị và quy định pháp luật hiện hành.
Vai trò của điều dưỡng trưởng, trưởng khoa và bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn
Điều dưỡng trưởng khoa và trưởng khoa giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, giám sát và duy trì tuân thủ quy định mặc áo blouse tại khoa/phòng, gắn với hệ thống quản lý chất lượng và an toàn người bệnh.

- Phổ biến quy định cho nhân viên mới, sinh viên thực tập:
- Lồng ghép nội dung quy định về đồng phục, áo blouse vào chương trình định hướng hội nhập cho nhân viên mới, sinh viên, học viên.
- Giải thích rõ ý nghĩa kiểm soát nhiễm khuẩn, hình ảnh nghề nghiệp, trách nhiệm pháp lý liên quan đến việc sử dụng áo blouse.
- Hướng dẫn trực tiếp cách mặc đúng chuẩn (cài đủ cúc, chiều dài, kết hợp với bảng tên, thẻ nhân viên, PPE khác).
- Kiểm tra định kỳ, nhắc nhở nhân viên vi phạm:
- Tổ chức kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ trong ca trực, buổi giao ban, các đợt đánh giá nội bộ.
- Ghi nhận các trường hợp vi phạm (áo bẩn, nhàu, không đúng mẫu, mang ra ngoài khu vực cấm…) và nhắc nhở trực tiếp.
- Áp dụng hình thức nhắc nhở bằng văn bản, ghi vào sổ giao ban hoặc biên bản kiểm tra khi vi phạm lặp lại nhiều lần.
- Phối hợp với phòng Tổ chức cán bộ/Phòng Hành chính để đưa tiêu chí tuân thủ đồng phục vào đánh giá thi đua cá nhân và tập thể.
- Phối hợp với bộ phận đồ vải để đảm bảo đủ áo sạch:
- Lập kế hoạch nhu cầu áo blouse theo số lượng nhân sự, đặc thù chuyên môn (khoa hồi sức, phẫu thuật, truyền nhiễm… có thể cần số lượng nhiều hơn).
- Thiết lập quy trình cấp phát, thu hồi, luân chuyển áo blouse rõ ràng, có người chịu trách nhiệm.
- Theo dõi tỷ lệ áo hỏng, áo mất, áo nhiễm bẩn nặng để đề xuất bổ sung, thay thế kịp thời.
Bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) có vai trò chuyên môn sâu trong việc xây dựng, cập nhật và giám sát thực hiện các quy định liên quan đến áo blouse như một phần của hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.
- Soạn thảo quy định về đồ vải, trong đó có áo blouse:
- Xây dựng quy trình chuẩn về quản lý đồ vải (SOP), bao gồm phân loại áo blouse sạch/bẩn, nhiễm khuẩn/không nhiễm khuẩn.
- Đề xuất tiêu chuẩn chất liệu, tần suất thay áo, quy trình xử lý áo nhiễm máu, dịch tiết, hóa chất.
- Phối hợp với Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn và Ban Giám đốc để ban hành, cập nhật văn bản phù hợp với hướng dẫn quốc gia và quốc tế.
- Đào tạo nhân viên về sử dụng và xử lý áo blouse an toàn:
- Tổ chức các lớp tập huấn định kỳ về kiểm soát nhiễm khuẩn, trong đó tích hợp nội dung sử dụng áo blouse đúng chuẩn.
- Hướng dẫn cách cởi áo blouse an toàn sau khi tiếp xúc với nguồn lây, tránh làm phát tán tác nhân gây bệnh ra môi trường.
- Đào tạo nhân viên đồ vải, hộ lý về quy trình thu gom, vận chuyển, giặt, là, lưu trữ áo blouse theo nguyên tắc một chiều, tránh nhiễm chéo.
- Kiểm tra tuân thủ trong các đợt giám sát nội bộ, đánh giá chất lượng:
- Thực hiện giám sát trực tiếp tại các khoa phòng, ghi nhận tỷ lệ nhân viên tuân thủ quy định mặc áo blouse.
- Đưa tiêu chí đồng phục, áo blouse vào bộ chỉ số đánh giá kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn người bệnh.
- Phân tích nguyên nhân gốc rễ khi phát hiện tỷ lệ vi phạm cao (thiếu áo, quy trình đồ vải bất cập, nhận thức nhân viên chưa đầy đủ…).
Nhắc nhở, kiểm tra nội bộ và xử lý trường hợp mặc blouse không đúng quy định
Bệnh viện thường áp dụng cơ chế nhắc nhở và xử lý theo từng mức độ, bảo đảm tính giáo dục, phòng ngừa nhưng vẫn đủ sức răn đe đối với các hành vi cố ý hoặc tái phạm nhiều lần.

- Nhắc nhở miệng khi phát hiện vi phạm lần đầu:
- Áp dụng cho các vi phạm nhẹ như: áo hơi nhàu, quên cài đủ cúc, vô tình mang blouse ra khỏi khu vực cho phép trong thời gian ngắn.
- Người nhắc nhở có thể là điều dưỡng trưởng, trưởng tua trực, cán bộ KSNK hoặc bất kỳ cán bộ quản lý được phân quyền.
- Khuyến khích văn hóa an toàn, trong đó mọi nhân viên đều có quyền và trách nhiệm nhắc nhở đồng nghiệp về việc tuân thủ đồng phục.
- Ghi nhận vào biên bản kiểm tra nội bộ nếu vi phạm lặp lại:
- Khi nhân viên tái phạm cùng một lỗi hoặc nhiều lỗi liên quan đến áo blouse trong một khoảng thời gian nhất định.
- Việc ghi nhận được thực hiện trong biên bản kiểm tra nội bộ, sổ giao ban, hoặc phiếu giám sát KSNK.
- Thông tin vi phạm có thể được sử dụng trong đánh giá định kỳ, xét thi đua, khen thưởng, hoặc xây dựng kế hoạch đào tạo bổ sung.
- Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật theo quy chế nếu vi phạm nghiêm trọng hoặc cố ý:
- Áp dụng khi hành vi vi phạm dẫn đến hoặc có nguy cơ cao dẫn đến sự cố nhiễm khuẩn bệnh viện, lây nhiễm chéo, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn người bệnh.
- Có thể bao gồm các trường hợp cố tình không tuân thủ quy định nhiều lần dù đã được nhắc nhở, hoặc tự ý thay đổi áo blouse gây nhầm lẫn chức danh, chuyên môn.
- Hình thức kỷ luật tuân theo quy chế nội bộ và pháp luật lao động: khiển trách, cảnh cáo, kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển vị trí công tác, chấm dứt hợp đồng…
Các đợt kiểm tra nội bộ, đánh giá chất lượng bệnh viện, đánh giá chuẩn năng lực nghề nghiệp thường có tiêu chí riêng về đồng phục và áo blouse. Khoa phòng có tỷ lệ vi phạm cao có thể bị nhắc nhở ở cấp khoa, cấp bệnh viện, yêu cầu xây dựng kế hoạch khắc phục, bao gồm:
- Tăng cường truyền thông nội bộ, nhắc nhở trong giao ban, dán poster, bảng nhắc tại khu vực làm việc.
- Rà soát lại quy trình cấp phát áo blouse, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, kích cỡ phù hợp.
- Tổ chức đào tạo lại, sinh hoạt chuyên đề về kiểm soát nhiễm khuẩn liên quan đến đồng phục.
Hồ sơ, hướng dẫn nội bộ và đào tạo định kỳ về đồng phục y tế
Quy định mặc áo blouse thường được cụ thể hóa trong các văn bản nội bộ, là căn cứ pháp lý và chuyên môn để triển khai, giám sát và xử lý vi phạm.

- Quy chế tổ chức và hoạt động bệnh viện:
- Quy định chung về trách nhiệm của nhân viên y tế trong việc tuân thủ nội quy, trong đó có quy định về đồng phục.
- Liên kết với các quy định về đạo đức nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, an toàn người bệnh.
- Quy định về đồng phục và tác phong nhân viên:
- Mô tả chi tiết mẫu áo blouse cho từng nhóm đối tượng (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, dược sĩ, hộ lý…).
- Quy định cách phối hợp với các loại đồng phục khác (áo phẫu thuật, áo cách ly, áo phòng hộ chuyên dụng).
- Quy định về bảo quản, vệ sinh, thay thế, bồi hoàn khi làm mất hoặc làm hỏng áo do lỗi cá nhân.
- Quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn đồ vải:
- Mô tả luồng di chuyển một chiều của đồ vải từ bẩn đến sạch, bao gồm áo blouse.
- Quy định phân loại áo blouse nhiễm khuẩn, nguy cơ cao, nguy cơ thấp; phương pháp xử lý, khử khuẩn, tiệt khuẩn (nếu cần).
- Quy định trách nhiệm của từng bộ phận: khoa lâm sàng, khoa KSNK, khoa đồ vải, nhà thầu giặt là (nếu có).
Bệnh viện tổ chức đào tạo định kỳ cho nhân viên mới, sinh viên, học viên và cả nhân viên đang làm việc lâu năm, nhằm cập nhật kiến thức và củng cố thói quen tuân thủ:
- Đào tạo về cách sử dụng, giặt, bảo quản áo blouse gắn với nội dung vệ sinh tay, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân (PPE), phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa theo đường lây truyền.
- Đào tạo chuyên sâu cho nhóm quản lý (trưởng khoa, điều dưỡng trưởng, cán bộ KSNK) về giám sát, ghi nhận, phân tích vi phạm liên quan đến đồng phục.
- Đào tạo, hướng dẫn cho nhân viên đồ vải, hộ lý về quy trình kỹ thuật xử lý áo blouse, đảm bảo tuân thủ tiêu chuẩn KSNK.
Hồ sơ đào tạo, biên bản kiểm tra, báo cáo sự cố liên quan đến đồ vải và áo blouse được lưu trữ có hệ thống, phục vụ cho công tác quản lý chất lượng, đánh giá tuân thủ, truy xuất khi có sự cố và làm căn cứ cho các hoạt động cải tiến liên tục trong bệnh viện.
Câu hỏi thường gặp về quy định mặc áo blouse tại bệnh viện (FAQ)
Quy định mặc áo blouse tại bệnh viện tập trung vào hai mục tiêu chính: kiểm soát nhiễm khuẩn và duy trì hình ảnh chuyên nghiệp. Nhân viên y tế thường không được khuyến khích mặc blouse từ nhà đến bệnh viện hoặc ra ngoài cộng đồng để tránh mang mầm bệnh hai chiều. Trong ca làm việc, bác sĩ và điều dưỡng phải tuân thủ quy chế trang phục tùy theo khu vực: blouse, scrubs hay PPE chuyên dụng ở nơi nguy cơ cao. Áo blouse nhiễm máu, dịch tiết được xem là đồ vải y tế nhiễm bẩn, cần xử lý tách biệt. Sinh viên thực tập bắt buộc phải có tên và ký hiệu “Sinh viên” để đảm bảo minh bạch, an toàn người bệnh và thuận lợi quản lý.

Có được mặc áo blouse từ nhà đến bệnh viện không?
Về nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn, áo blouse được xem là một dạng “đồ vải y tế” và có nguy cơ mang theo vi sinh vật từ môi trường này sang môi trường khác. Vì vậy, nhiều bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện tuyến cuối, bệnh viện chuyên khoa nhiễm, ung bướu, hồi sức… không khuyến khích hoặc cấm mặc áo blouse từ nhà đến bệnh viện.
Lý do chuyên môn chính:
- Áo blouse có thể mang mầm bệnh từ cộng đồng (vi khuẩn đa kháng, virus đường hô hấp, nấm…) vào khoa phòng, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện.
- Áo mặc ngoài đường dễ bám bụi, khói, chất bẩn, sau đó tiếp xúc trực tiếp với người bệnh suy giảm miễn dịch, người bệnh sau mổ, trẻ sơ sinh…
- Khó kiểm soát quy trình giặt, khử khuẩn nếu áo được sử dụng như trang phục thường ngày.
Thực hành được khuyến cáo cho nhân viên y tế:
- Mang áo blouse sạch, đã được giặt và ủi đúng quy trình, đựng trong túi riêng (túi vải hoặc túi nilon sạch) đến bệnh viện.
- Mặc áo tại phòng thay đồ, phòng trực, hoặc khu vực hành chính của khoa, tránh mặc trên đường di chuyển từ nhà đến bệnh viện.
- Cởi áo blouse trước khi ra khỏi khuôn viên bệnh viện, treo tại tủ đồ cá nhân hoặc khu vực quy định; không mang áo đã sử dụng đi ăn uống, mua sắm, di chuyển ngoài cộng đồng.
Một số cơ sở y tế nhỏ, phòng khám tư, trạm y tế có thể linh hoạt hơn do điều kiện cơ sở vật chất hạn chế (không có phòng thay đồ riêng, không có dịch vụ giặt là tập trung). Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng các bệnh truyền nhiễm (COVID-19, cúm, lao, sởi…), xu hướng chung của kiểm soát nhiễm khuẩn là hạn chế tối đa việc mặc blouse ngoài bệnh viện và khuyến khích sử dụng scrubs hoặc đồng phục y tế dễ giặt, thay nhanh.
Bác sĩ có bắt buộc mặc blouse trong mọi ca trực không?
Đối với bác sĩ làm việc tại các khoa lâm sàng, khoa cấp cứu, ICU, khoa khám bệnh, quy định nội bộ thường yêu cầu bắt buộc mặc áo blouse hoặc scrubs trong suốt thời gian làm việc có tiếp xúc với người bệnh, người nhà, hoặc tham gia các hoạt động chuyên môn (khám bệnh, hội chẩn, làm thủ thuật…).
Một số điểm cần lưu ý về thực hành:
- Trong ca trực, khi ở phòng trực, phòng nghỉ, bác sĩ có thể cởi blouse để nghỉ ngơi, ăn uống, làm việc hành chính; tuy nhiên, khi ra khỏi phòng trực để đi khám, đi buồng, tham gia cấp cứu, phải mặc lại áo blouse hoặc scrubs đúng quy định.
- Ở các khu vực có yêu cầu kiểm soát nhiễm khuẩn cao (phòng mổ, ICU, NICU, khu cách ly), bác sĩ thường chỉ mặc scrubs vô khuẩn hoặc đồng phục phẫu thuật, kèm áo choàng phẫu thuật/áo choàng cách ly; trong nhiều quy định, không sử dụng blouse trắng trong các khu vực này để tránh mang mầm bệnh từ ngoài vào.
- Trong các buổi giao ban, hội chẩn liên khoa, làm việc tại phòng khám, bác sĩ thường được yêu cầu mặc blouse trắng, bảng tên, và các phương tiện nhận diện khác (logo bệnh viện, thẻ nhân viên) để đảm bảo tính chuyên nghiệp và nhận diện rõ ràng.
Việc bắt buộc hay không bắt buộc mặc blouse trong mọi thời điểm của ca trực phụ thuộc vào:
- Quy định kiểm soát nhiễm khuẩn và quy chế trang phục của từng bệnh viện.
- Đặc thù chuyên môn của khoa (ngoại khoa, nội khoa, hồi sức, nhi, sản, truyền nhiễm…).
- Mức độ tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và thủ thuật xâm lấn.
Trong mọi trường hợp, áo blouse hoặc scrubs phải được giữ sạch, không rách, không dính máu, dịch tiết; khi bị nhiễm bẩn phải thay ngay, không tiếp tục sử dụng trong ca trực.
Điều dưỡng nên mặc blouse hay scrubs tại khoa điều trị?
Điều dưỡng là nhóm nhân viên y tế tiếp xúc gần và liên tục với người bệnh, thực hiện nhiều thao tác cần vận động (chăm sóc, thay băng, tiêm truyền, vận chuyển người bệnh…). Do đó, tại đa số khoa điều trị, điều dưỡng thường ưu tiên scrubs hoặc đồng phục điều dưỡng thay vì blouse dài.
Lý do chuyên môn và thực tiễn:
- Scrubs gọn, nhẹ, ít vướng víu, thuận tiện cho thao tác kỹ thuật và di chuyển nhanh trong cấp cứu.
- Dễ giặt, dễ thay, có thể cấp phát theo ngày hoặc theo ca trực, giúp kiểm soát nhiễm khuẩn đồ vải tốt hơn.
- Giảm số lớp vải tiếp xúc với bề mặt môi trường, giường bệnh, thiết bị y tế, từ đó giảm nguy cơ nhiễm bẩn chéo.
Áo blouse có thể được điều dưỡng sử dụng trong một số bối cảnh nhất định:
- Khi tham gia khám bệnh cùng bác sĩ tại phòng khám ngoại trú, khu khám bệnh ban đầu, nơi cần hình ảnh chuyên nghiệp, đồng nhất.
- Khi tham gia hội chẩn, giao ban, tiếp xúc với người bệnh và người nhà tại khu vực hành chính, phòng tư vấn, phòng giáo dục sức khỏe.
Một số bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện có hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn phát triển, quy định điều dưỡng chỉ mặc scrubs hoặc đồng phục điều dưỡng, không dùng blouse trong khu điều trị nội trú để:
- Giảm nguy cơ áo dài chạm vào giường bệnh, bề mặt bẩn.
- Giảm chi phí giặt là và đơn giản hóa quy trình cấp phát đồ vải.
- Tạo sự phân biệt rõ ràng giữa bác sĩ (thường mặc blouse) và điều dưỡng (thường mặc scrubs màu đặc trưng).
Quyết định cuối cùng phụ thuộc vào quy định nội bộ, đánh giá nguy cơ của từng khoa (hồi sức, truyền nhiễm, sơ sinh, ngoại khoa…) và hướng dẫn của bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn.
Áo blouse dính máu có thể giặt chung với quần áo thông thường không?
Áo blouse dính máu, dịch cơ thể (dịch tiết hô hấp, dịch tiêu hóa, dịch dẫn lưu, dịch mủ…) được phân loại là đồ vải y tế nhiễm bẩn và không được giặt chung với quần áo thông thường, đặc biệt là quần áo gia đình, quần áo trẻ em.
Nguyên tắc xử lý chuyên môn:
- Áo phải được thu gom vào túi đồ vải nhiễm khuẩn riêng, có ký hiệu rõ ràng, tránh lẫn với đồ sạch hoặc đồ ít nguy cơ.
- Nếu bệnh viện có hệ thống giặt là tập trung, áo blouse nhiễm máu cần được chuyển về khu giặt là y tế, nơi có quy trình xử lý đồ vải nhiễm khuẩn đạt chuẩn (ngâm khử khuẩn, giặt ở nhiệt độ cao, sấy, ủi nóng).
- Trong trường hợp bắt buộc phải giặt tại nhà (ví dụ cơ sở nhỏ, không có dịch vụ giặt là y tế), cần tuân thủ quy trình được phê duyệt bởi bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn:
- Ngâm áo trong dung dịch khử khuẩn phù hợp (thường là dung dịch chứa chlorine ở nồng độ khuyến cáo) trong thời gian đủ dài.
- Giặt riêng áo blouse, không giặt chung với bất kỳ loại quần áo sinh hoạt nào.
- Phơi áo ở nơi có ánh nắng, thông thoáng, sau đó ủi nóng để tăng hiệu quả tiêu diệt vi sinh vật.
Việc giặt chung áo blouse nhiễm máu với quần áo gia đình có thể làm phát tán mầm bệnh (HBV, HCV, HIV, vi khuẩn đa kháng…) vào môi trường gia đình, gây nguy cơ cho người thân, đặc biệt là trẻ nhỏ, người già, người suy giảm miễn dịch. Do đó, khuyến cáo chuyên môn là tốt nhất nên giặt áo blouse nhiễm bẩn tại bệnh viện hoặc đơn vị giặt là y tế được kiểm soát.
Sinh viên thực tập có cần thêu tên trên áo blouse không?
Phần lớn bệnh viện và cơ sở đào tạo y khoa yêu cầu sinh viên thực tập phải có tên và ký hiệu “Sinh viên” trên áo blouse hoặc trên bảng tên đeo ngực. Đây là yêu cầu vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính đạo đức nghề nghiệp.
Các hình thức nhận diện thường gặp:
- Thêu họ tên đầy đủ, ngành học (Y đa khoa, Điều dưỡng, Kỹ thuật xét nghiệm…), khóa học trên ngực áo, kèm theo chữ “Sinh viên”.
- Đeo bảng tên kích thước đủ lớn, ghi rõ họ tên, trường, ngành, và dòng chữ “Sinh viên y khoa”, “Sinh viên điều dưỡng”… để người bệnh dễ quan sát.
- In logo trường, khoa, và chữ “Student” hoặc “Sinh viên” trên áo blouse hoặc trên miếng dán nhận diện.
Mục tiêu chuyên môn và đạo đức:
- Giúp người bệnh, người nhà nhận diện rõ ràng sinh viên, phân biệt với bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên đã có chứng chỉ hành nghề.
- Tránh giao cho sinh viên các nhiệm vụ vượt quá phạm vi cho phép (làm thủ thuật xâm lấn một mình, kê đơn độc lập…), đảm bảo an toàn người bệnh.
- Hỗ trợ công tác quản lý, giám sát sinh viên trong môi trường lâm sàng, giúp giảng viên, điều dưỡng trưởng, bác sĩ phụ trách dễ dàng nhận diện để hướng dẫn, đánh giá.
Ở một số bệnh viện, việc không đeo bảng tên hoặc không có ký hiệu “Sinh viên” có thể bị xem là vi phạm quy chế trang phục, có thể bị nhắc nhở, ghi nhận vi phạm, thậm chí đình chỉ thực tập nếu tái phạm nhiều lần.
Có được mặc áo blouse ra ngoài bệnh viện để ăn uống hoặc di chuyển không?
Theo nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn và hình ảnh chuyên nghiệp, quy định tại nhiều bệnh viện không cho phép nhân viên y tế mặc áo blouse ra ngoài bệnh viện để ăn uống, mua sắm, di chuyển bằng phương tiện công cộng hoặc tham gia các hoạt động xã hội.
Các lý do chính:
- Áo blouse đã tiếp xúc với môi trường bệnh viện (người bệnh, bề mặt, thiết bị y tế) có thể mang mầm bệnh ra cộng đồng, làm tăng nguy cơ lây lan, đặc biệt với các tác nhân đa kháng thuốc.
- Mặc blouse ở nơi công cộng có thể gây hiểu nhầm về việc sử dụng hình ảnh nhân viên y tế trong bối cảnh không phù hợp (quảng cáo, truyền thông không chính thức, hoạt động thương mại…).
- Ảnh hưởng đến hình ảnh chuyên nghiệp nếu áo bẩn, nhăn, dính máu, dịch tiết nhưng vẫn được mặc ở quán ăn, quán cà phê, trung tâm thương mại.
Thực hành được khuyến cáo:
- Cởi áo blouse, treo tại khoa hoặc tủ đồ cá nhân trước khi ra khỏi bệnh viện.
- Mặc trang phục công sở hoặc thường phục phù hợp khi ra ngoài ăn uống, di chuyển, tham gia sinh hoạt cá nhân.
- Nếu cần di chuyển giữa các cơ sở y tế (ví dụ đi hội chẩn liên viện), nên mang blouse sạch trong túi riêng và chỉ mặc khi vào khu vực chuyên môn của cơ sở đến.
Khi nào áo blouse cần được thay bằng áo choàng bảo hộ PPE?
Áo blouse chỉ là lớp trang phục cơ bản, không có khả năng chống thấm, chống bắn tóe máu, dịch tiết ở mức cao. Trong nhiều tình huống nguy cơ, áo blouse cần được thay bằng áo choàng bảo hộ hoặc PPE chuyên dụng để bảo vệ nhân viên y tế và hạn chế lây nhiễm chéo.
Các tình huống điển hình:
- Vào phòng cách ly bệnh truyền nhiễm (lao phổi, cúm nặng, sởi, sốt xuất huyết nặng, bệnh do virus đường hô hấp…).
- Thực hiện thủ thuật có nguy cơ bắn máu, dịch tiết nhiều: đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, dẫn lưu màng phổi, phẫu thuật nhỏ tại giường, nội soi can thiệp, thủ thuật răng hàm mặt…
- Tham gia chăm sóc người bệnh trong khu điều trị COVID-19 hoặc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, nơi yêu cầu PPE đầy đủ (áo choàng chống thấm, khẩu trang chuyên dụng, kính/face shield, găng tay, mũ, bao giày…).
- Làm việc trong phòng xét nghiệm vi sinh, phòng an toàn sinh học, nơi có nguy cơ tiếp xúc với mẫu bệnh phẩm nồng độ cao, khí dung, giọt bắn.
Trong các trường hợp này, áo blouse chỉ đóng vai trò trang phục nền (nếu quy định cho phép mặc bên trong), còn lớp bảo vệ chính là:
- Áo choàng cách ly dùng một lần hoặc tái sử dụng đạt chuẩn, có khả năng chống thấm, chống bắn tóe.
- Gown phẫu thuật, áo choàng phẫu thuật vô khuẩn trong phòng mổ.
- Bộ PPE đầy đủ theo hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn sinh học của bệnh viện.
Việc lựa chọn loại áo choàng, cấp độ bảo hộ (PPE cấp 1, 2, 3…) phải dựa trên đánh giá nguy cơ của từng thủ thuật, từng khu vực làm việc và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình mang – tháo phương tiện phòng hộ cá nhân để tránh tự nhiễm hoặc phát tán mầm bệnh ra môi trường xung quanh.